Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

TK: Chất chống Oxy hóa (TT)


CHƯƠNG 3
GIẢM THIỂU NGUY CƠ BỆNH UNG THƯ

            Các OPC có lẻ có các vai trò quan trọng trong cả ngăn ngừa bệnh ung thư và cả là phụ tá trong việc điều trị ung thư. Các OPC cũng có các hiệu ứng có ích đối với hệ bthống miễn dịch, và là nhân tố bảo vệ chống lại việc phát bệnh, chẳng hạn như ung thư, viêm khớp, và bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, những khám này không có nghĩa đề nghị rằng các OPC là phương thuốc chữa trị được bệnh ung thư.
            Vào thập niên 1960 trong các nghiên cứu về tuổi thọ với các chất chống ô-xýt hóa mà đồng nhiệp nghiên cứu và tôi theo đuổi, cùng tôi khám phá rằng sự truy nguyên khoáng chất selen và hợp chất nhất định chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa giảm thiểu đột ngột tỉ lệ mắc phải bệnh ung thư. Trong nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trong đó chất gây ung thư được dùng để nuôi động vật theo chế độ ăn uống của chúng, tỉ lệ mắc phải bệnh ung thư ở động vật là trên 90 phần trăm, trong khi các con vật được dùng các hợp chất chống ô-xýt hóa, tỉ lệ mắc phải bệnh ung thư thì ít hơn 10 phần trăm. Trong những nghiên cứu mà trong đó động vật không được nuôi với  chất gây ung thư, tỉ lệ mắc phải bệnh hầu như là không phần trăm trong những động vật nhận các hợp chất chống ô-xýt hóa, trong khi các động vật không nhận chất bổ sung chống ô-xýt hóa có tỉ lệ bình thường sự xảy ra bệnh ung thư. (American Laboratory, 1973).
            Kể từ đó tôi và đồng nghiệp nhận được chứng nhận phát minh cho việc chỉ dùng selen, và trong hợp chất với các chất chống ô-xýt hóa khác, đối với việc ngăn ngừa bệnh ung thư (Chứng nhận phát minh Số 6.090.414, Hoa Kỳ). Viện Ung thư Quốc gia (NCI) tài trợ việc xác nhận nghiên cứu lâm sàng liên quan đến selen được hướng dẫn bởi TS. Larry Clark, được xuất bản vào năm 1995 và từ đó là người thực hiện thêm những nghiên cứu lâm sàng để xác nhận điều này. Đối với tất cả chúng tôi trong nghiên cứu về bệnh ung thư, NCI đã xuất bản những gì khám phá ra để xác nhận nghiên cứu và bằng chứng nhận phát minh của chúng tôi, tuy nhiên, NCI không xác nhận, “rằng selen ngăn ngừa bệnh ung thư” cho đến khi họ hiểu cơ chế một cách hoàn toàn. NCI chưa thực hiện xác nhận những nghiên cứu hợp chất đồng vận các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa. Với vai trò của chất chống ô-xýt hóa trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư qua rõ ràng và với hàng ngàn xác nhận thông qua thí nghiệm với động vật trong phòng thí nghiệm và các nghiên cứu dịch tễ học, NCI thì lơ đễnh trong việc không tiến hành những nghiên cứu này.

Cách thức các Gốc Tự do gây ra Ung thư
            Ung thư không phải là một bệnh riêng lẻ, nhưng thực sự là một nhóm bệnh tương tự. Có vào khoảng 100 loại bệnh ung thư khác nhau, và tất cả chúng liên quan đến sự không bình thường của một số tế bào của cơ thể. Bệnh ung thư chỉ là những tế bào phát triển một cách man dại và không kiểm soát được. Hầu hết bệnh ung thư liên quan đến bướu. NCI giải thích về bướu như sau:
            Các tế bào “khỏe mạnh” tạo nên các mô của cơ thể tự phát triển, phân chia và thay thế theo một cách trật tự. Tiến trình này giử cho cơ thể trong sự sửa chữa tốt. Tuy nhiên, đôi khi các tế bào bình thường mất đi khả năng hạn chế và chỉ đạo sự phát triển của chúng. Chúng chia ra quá nhanh và tăng trưởng không theo trật tự. Quá nhiều mô được sản sinh và bướu bắt đầu dược hình thành. Các bướu có thể hoặc là bướu lành hoặc bướu ác tính.
            Các bướu “lành” thì không phải là ung thư. Chúng nó không lan ra tới các phần khác của cơ thể và chúng ít khi là đe doạ cho cuộc sống. Thường là bướu lành được lấy khỏi cơ thể bằng giải phẩu, và chúng không bao giờ trở lại.
Các bướu “ác tính” thì thuộc ung thư. Chúng có thể xâm lăng và hủy diệt các mô và cơ quan lân cận. Các tế bào ung thư cũng lan ra, hoặc gây di căn đến các phần khác của cơ thể, và lập thành các bướu mới.
            Các từ then chốt trong sự giải thích này là “mất đi khả năng hạn chế và chỉ đạo sự phát triển của chúng.” Các gốc tự do có thể gây cho các tế bào biến đổi và khởi sự tiến trình ung thư.
            Sự phát triển của bệnh ung thư không chỉ theo một bước trên sự biến đổi thôi đâu. Những bước chính trong tiến trình ung thư bao gồm sự khởi đầu, xúc tiến, tiến triển, ung thư, và di căn. Chỉ có một sự đột biến của tế bào sẽ không nhất thiết đưa đến ung thư lâm sàng. Hệ miễn dịch luôn luôn tiêu diệt các tế bào bị đột biến trước khi chúng đưa tới bệnh ung thư. Sự khởi đầu của tiến trình ung thư có thể được bùng phát bởi các gốc tự do gây tổn hại đến gien chứa trong tài liệu gien (ADN) hoặc bởi gốc tự do liên quan đến sự kích hoạt của gien ung thư được gọi là “gien đột biến gây bệnh ung thư”. Các chất hóa học gọi là chất sinh ung thư có thể tổn hại ADN, nhưng thường là những chất hóa học này không thật sự gây tổn hại cho ADN cho đến khi chúng bị biến đổi bởi gốc tự do.
            Chúng ta hãy xem xét cẩn thận hơn cách thức gốc tự do có thể khởi đầu tiến trình ung thư.
·        Gốc tự do gây tổn hại cho hệ thống tái tạo tế bào của cơ thể, nó gồm có axít deoxyribonuclei (ADN). ADN chứa các mẵu để tái tạo tất cả các tế bào trong cơ thể và chịu trách nhiệm tạo nên “bạn” độc nhất vô nhị. Nếu các mẫu này trở nên bị tổn hại bởi gốc tự do, cơ thể của bạn không thể sửa chữa các tổn hại, và kết quả là khi cơ thể tạo nên tế bào mới, nó có thể là tế bào biến đổi, có thể biến thành bướu lành (không lan ra) hay bướu ác tính (mang tính ung thư).
·        Các gốc tự do có thể kích hoạt gien đột biến gây bệnh ung thư, cưỡng báchđiều hòa ngược gien của cái được gọi là gien ung thư. Điều hòa ngược là tiến trình xảy ra trong một tế bào, bùng phát bởi tín hiệu bên ngoài hoặc bên trong đối với một tế bào đưa tới kết quả trong sự gia tăng cưỡng báchđối với một hay nhiều gien và như là kết quả là protein bị mã hóa bởi những gien đó.
·        Các tế bào điều hòa sự sinh sôi nảy nở của chúng bởi khả năng cảm nhận về dân số của chúng về các tế bào lân cận. Các gốc tự do có thể gây tổn hại cho màng của một tế bào và ngưng kích hoạt cơ chế dò tìm trong màng gây hạn chế tăng trưởng và tái sản xuất tế bào. Nếu phần dò tìm bị tổn hại, thì sự sinh sôi nảy nở và tăng trưởng của tế bào trở nên không kiểm soát được.
·        Các gốc tự do có thể kích hoạt các chất gây ung thư và các chất tiền gây ung thư chẳng hạn như khói thuốc lá và các chất ô nhiễm khác có thể khởi sự phản ứng hóa học dẫn đến bệnh ung thư.
·        Các gốc tự do có thể triệt tiêu hệ miễn dịch, khử hoạt tính sự bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư.

Ngay cả khi một số tế bào bị đột biến, bệnh ung thư cũng sẽ không triển khai cho đến khi nhũng tế bào này có thể tái sản sinh ra nhiều tế bào bị đột biến hơn liên kết với hình thức như trong việc triển khai cung cấp máu cho chúng và hệ thống phòng vệ. Bước thứ hai được gọi là sự xúc tiến. Một số các nhân tố như uống rượu và hút thuốc lá có thể đẩy nhanh tiến độ của bước này. Tuy nhiên, hệ thống miễn dịch vẫn có thể ngưng sự tiến triển của các tế bào bị đột biến trong giai đoạn này cho tới khi các tế bào phát triển sự phòng vệ của chúng chống lại hệ miễn dịch của cơ thể.
Các chất chống ô-xýt hóa có thể ngưng hoặc làm chậm đi mỗi bước trong những bước trong sự phát triển bệnh ung thư. Các chứng cứ sơ bộ cho thấy rằng các chất chống ô-xýt hóa cũng có thể giảm đi các cơ hội của sự di căn và đẩy mạnh hệ thống miễn dịch. Một hệ thống miễn dịch rất khỏe mạnh có thể tiêu diệt ngay cả các bệnh ung thư bùng nổ lâm sàng.

Khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư của OPC
            Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã khẳng định rằng chế độ ăn uống nhiều hoa quả và rau củ giảm thiểu tỉ lệ mắc một số bệnh ung thư. Nhiều nhà khoa học tin rằng lý do hoa quả và rau củ rất mạnh trong việc bảo vệ vì chúng giàu các chất chống ô-xýt hóa, đặc biệt là sinh tố C và bioflavonoid.
            OPC có thể giúp bảo vệ chống lại các nguyên nhân ung thư thời kỳ đầu bằng:
·        Tiêu diệt các gốc tự do gây nên ung thư;
·        Khử hoạt tính các chất gây nên ung thư;
·        Ngăn ngừa sự kích hoạt của gien đột biến gây bệnh ung thư;
·        Đẩy mạnh hệ miễn dịch của cơ thể để có thể tiêu diệt các tế bào đột biến trước khi chúng trở nên bệnh ung thư; và
·        Giảm thiểu khuynh hướng các tế bào ung thư kết dính vào nhau và bám chặt vào các vị trí khác, và như thế gây di căn.

Ngoài ra, tôi tin rằng OPC cũng sẽ được khám phá là có thể ngăn chặn một số chất hoạt hóa gây nên bướu. Hiệu ứng này đã được chứng minh với các chất bioflavonoid khác và giải thích một phần trong các hoạt động bảo vệ chống lại ung thư.
            Chất ô-xýt hóa mạnh và gốc tự do oxy được biết là là loại oxy phản ứng (ROS), có thể gây nên một phức hợp trong các tế bào được gọi là nhân tố hạt nhân kappa B (NF-kB) phân ly và đi vào nhân tế bào nơi đó chúng bám vào ADN và kích hoạt gien đột biến gây bệnh ung thư. TS. Benjamin Lau và đồng nghiệp của ông ta tại Loma Linda University ở California đã khám phá rằng OPC được tìm thấy trong Pycnogenol® bảo vệ NF-kB từ sự phân ly này và sự kích hoạt gien đột biến gây bệnh ung thư (Peng và đồng sư, 2000). Ngoài ra, TS. A. Nelson và đồng nghiệp của ông ta đã chứng tỏ rằng Pycnogenol có thể bảo vệ chống lại tổn hại cho ADN gây ra bởi gốc hydroxyl, chất gây phản ứng nhất của các loại ôxy phản ứng (Nelson và cộng sự, 1998).
            Pycnogenol cũng ngăn chặn sự hình thành các chất chuyển hóa phản ứng chất được sản sinh từ NNK, một ntrosamine hiện diện trong thuốc lá chứa các thuộc tính mutagenic và chất gây ung thư (Huynh và Teel, 1998).
            Chiết xuất giàu proanthocyanidin trong các trái dâu được chứng minh ngăn chặn sự tăng trưởng và lan rộng ra các tế bào liên quan rất lớn bệnh ung thư. Trong một nghiên cức được hướng dẫn bởi TS. Navinda Seeram tại University of California Los Angeles’s (UCLA) Center for Human Nutrition, các nhà nghiên cứu đánh giá hàm lượng axít carbolic trong sáu loại dâu (quả mâm xôi, nam việt quất, việt quất, dâu tây đỏ và đen) và thử nghiệm khả năng ngăn chặn sự tăng trưởng các tuyến tế bào ung thư nơi con người. TS. Seeram báo cáo, “Các nghiên cứu của chúng tôi cung cấp các dữ liệu sơ bộ đối với khả năng của các hợp chất này trong việc ngăn chặn sự tăng trưởng và kích thích apoptosis [tự phá hủy một tế bào dự tính ngăn các khiếm khuyết đáp ứng] của các tuyến tế bào ung thư nơi con người trong cấy tế bào” trong Journal of Agriculture and Food Chemistry.
            Các phần tử cấu thành phenolic chính được tìm thấy là anthocyanin, ellagitannin, flavanols, galltannin, axít phenolic, và proathocyanidin. Mỗi loại dâu có hàm lượng phenolic khác biệt và duy nhất.
            TS. Seeram và đồng sự đã thử nghiệm các chiết xuất từ mỗi loại trái dâu về tiềm năng chống ung thư của chúng trên một phạm vi tuyến tế bào ung thư ở người. Các chiết xuất được thử nghiệm về khả năng của chúng trong việc ngưng lại sự lan rộng và sự kích thích của aoptosis của các tuyến tế bào ung thư đường miệng, tuyến tiền kiệt, vú, và kết tràng của con người.
            Các nhà nghiên cứu nói rằng, “Đáng ghi nhận là các thử nghiệm với các độ đậm đặc của các chiết xuất từ trái dâu được dùng trong các thử nghiệm cấy tế bào vượt xa mức độ của phenolic và/ hoặc là các chất chuyển hóa của chúng mà các chức năng của cơ thể có thể nhận được, dựa trên các kiến thức hiện nay về khả năng sinh học sẳn có của polyphenolic,”
            Hơn nữa, các nhà nghiên cứu quan sát thấy rằng sự phát triển nhanh chóng tế bào ung thư được giảm thiểu tùy thuộc vào liều lượng. “Sự kích thích của apoptosis hoặc sự hoãn thi hành chu kỳ của tế bào có thể là một tiến trình tuyệt vời trong việc ngăn chặn sự đẩy mạnh và phát triển của chất gây ung thư [sự tạo nên ung thư] và tổn hại các tế bào về mặt di truyền học, tiền khởi sự, tạo hình mới từ cơ thể,” TS. Seeram giải thích.
            Trong khi nhiều hình thức của phenolic hiện diện trong các chiết xuất trái dâu, các nhà nghiên cứu đề nghị rằng các anthocyanin có thể là nguyên nhân chính cho cái chết được lập trình của tế bào, nhưng phải cần nghiên cứu thêm (Journal of Agriculture and Food Chemistry, 2006).
            Pycnogenol® đẩy mạnh tính miễn dịch trong một số cách. TS. Ronald Watson của University of Arizona, Tucson, chuyên nghiệp về nghiên cứu hệ miễn dịch và đã thực hiện một số nghiên cứu với Pycnogenol và hệ miễn dịch. Trong một nghiên cứu, TS. Watson phát hiện rằng Pycnogenol đẩy mạnh mức độ của một số thành phần miễn dịchđược gọi là cytokine, đóng vai trò quyết định trong sắp xếp các chiến thuật của tính miễn dịch đáp ứng sự lây nhiễm (Cheshier và cộng sự, 1996).
            TS. Lau đề cập rất sớm trong nghiên cức của ông ta về NF-kB cho thấy rằng Pycnogenol có thể làm mất tác dụng sức mạnh bị làm yếu đi của hệ miễn dịch bằng cách nâng cao sự sản sinh các tế bào miễn dịch. Điều này đặc biệt quan trọng khi một người già đi và có tương quan tốt với sự gia tăng hiểm họa mắc bệnh ung thư với tuổi tác.
            Tất cả các tế bào miễn dịch là quan trọng trong sự chống lại bệnh ung thư trong cơ thể. Trong một thí nghiệm được thực hiện bởi TS. Watson, Pycnogenol phục hồi một phần mức độ gia tăng của các cytokine nhất định trong phòng thí nghiệm các động vật bị nhiễm với vi rút thoái hóa tương tự với HIV (vi rút gây ra bệnh AIDS). Ngoài ra, Pycnogenol gia tăng rất nhiều hoạt động của loại tế bào miễn dịch khác được gọi là các tế bào sát thủ tự nhiên, trong các con chuột nhiễm bệnh. Pycnogenol củng cố tính miễn dịch bằng cách bảo vệ các thành phần miễn dịch hiện hữu từ những hóa chất riêng của chúng. Các tế bào bạch cầu chống nhiễm bệnh dùng các gốc tự do tiêu diệt các vi khuẩn. Khi các tế bào bạch cầu sản xuất quá nhiều các gốc tự do, các tế bào bắt đầu tự sát. Pycnogenol cho phép vi khuẩn bị giết trong khi đứng yên để bảo vệ bạch cầu chống lại bất kỳ sự vượt quá qui định của các gốc tự do (Cheshier và cộng sự, 1996; Liu và cộng sự, 1998; Peng và cộng sự, 1999).
            Vào ngày 25 tháng 3 năm 2007 tại buổi họp của American Chemical Society, người ta đã báo cáo rằng OPC có thể ngăn ngừa ung thư da bằng cách đẩy mạnh hệ thống miễn dịch. Proanthocyanidin cho thấy sự hứa hẹn trong các nghiên cứu trên động vật như là phương thức ngăn ngừa ung thư da gây ra do ánh sáng mặt trời khi được dùng chất bổ sung trong ẩm thực, theo các nhà nghiên cứu tại University of AlabamaBirmingham. Trong các nghiên cứu dùng mẫu chuột của bệnh ung thư da gây ra bởi tia cực tím (non-melanoma), các con chuột được nuôi với chất bổ sung ẩm thực với proanthocyanidin, cho thấy sự giảm đi số bướu (sự giảm đi đạt đến 65 phần trăm) và kích cỡ (nhỏ hơn đến 78 phần trăm) so sánh với động vật kiểm tra đối chứng không nhận các hợp chất, các nhà nghiên cứu đã nói. Các hợp chất hình như hoạt động bằng cách kềm chế sự bị đàn áp của hệ miễn dịch gây ra bởi sự phơi ra dưới tia cực tím, TS. Santosh Katiya, một phó giáo sư ở Khoa Da Liễu trường đại học (phần và số bản tóm tắt của phần trình bày: AGFD 011, Chủ Nhật ngày 25 tháng 3, năm 2007, lúc 10 giờ sáng)
            Bây giờ chúng ta hãy xem xét lại những gì chúng ta biết được về khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư của các chất quan trọng OPC khác.

Chiết xuất Hạt nho chống Bệnh Ung thư
            Hấu hết các nghiên cứu với chiết xuất hạt nho được giam hãm trong các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Các nghiên cứu về cấy tế bào trong phòng thí nghiệm nhận thấy rằng chiết xuất hạt nho ngăn ngừa sự tăng trưởng về tế bào ung thư vú, bao tử, và phổi, nhưng sự tăng trưởng và khả năng tồn tại và phát triển của các tế bào bình thường được duy trì.
            Vào năm 1999, TS. X. Ye và đồng nghiệp ở Creighton University School of Pharmacy đã nghiên cứu hiệu ứng của chiết xuất hạt nho chống lại các tế bào ung thư vú ở người, các tế bào ung thư phổi ở người, và các tế bào adenocarcinoma ở bao tử (Molecular and Cellular Biochemistry, 1999). Ngoài ra, họ so sánh các hiệu ứng các tế bào màng bao tử của người bình thường và các tế bào đại thực bào loài gặm nhấm với các hiệu ứng trên các tuyến tế bào ung thư. Trong thời kỳ ủ bệnh dùng chiết xuất hạt nho kết qủa đạt được sự kềm chế đến 47 phần trăm của sự tăng trưởng tế bào ung thư. Chiết xuất hạt nho nâng cao sự tăng trưởng và tồn tại và phát triển độc lập các tế bào màng bao tử của người bình thường và các tế bào đại thực bào loài gặm nhấm. Các nhà nghiên cứu kết luận, “Những dữ liệu này chứng tỏ chiết xuất hạt nho kềm chế cytotoxicity tiến về một số tế bào ung thư, trong khi nâng cao sự tăng trưởng và tồn tại và phát triển độc lập các tế bào bình thường được xem xét”.
            Vào năm 2001, các TS. K.W. Singletary và B. Meline của University of Illinois xác định rằng chiết xuất hạt nho giảm thiểu tỉ lệ mắc phải bệnh ung thư của các động vật trong phòng thí nghiệm vào khoảng 88 phần trăm (Nutrition and Cancer, 2001). Điều này kết hợp mật thiết với những gì tôi và đồng nghiệp đã báo cáo vào năm 1973 dùng một hợp các chất chống ô-xýt hóa. Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng “Cho các con chuột cái dùng chế độ ăn uống chứa từ 0,1 đến 1,0 phần trăm proanthocyanidin hạt nho liên kết với sự kềm chế đáng kể từ 72 đến 88% của AOM [axoxymethane]-kích thích tạo thành lập ổ bệnh mã hóa khác thường.” AOM là chất gây bệnh ung thư có hiệu lực lớn được dùng để kích thích ung thư kết tràng ở động vật.. Họ kết luận, “Những kết quả này chứng tỏ polyphenolic trái nho chứng thực sự đánh giá như là các tác nhân ngăn ngừa tiềm năng bệnh ung thư kết tràng.”
            Chiết xuất hạt nho cũng có hiệu ứng ngăn ngừa tổn hại đối với các tế bào gan của con người gây ra bởi thuốc men hóa học trị liệu. Nghiên cứu về tế bào khác cho thấy chiết xuất hạt nho cũng có hiệu ứng ngăn ngừa tổn hại tế bào, tổn hại đối với ADN, và sự chết tế bào khi các tế bào được đặt vào thuốc lá.

Chiết xuất rượu vang đỏ chống lại tế bào ung thư
            Vào năm 2005 và cũng trong các nghiên cứu trước đây, TS. G. Cardeni và đồng ngiệp tại University of Florence, Ý nhận thấy rằng chiết xuất rượu vang đỏ bảo vệ các động vật dùng trong phòng thí nghiệm chống lại ung thư kết tràng gây ra bởi các chất gây ung thư. Trong báo cáo của họ vào năm 2005, họ bình luận, “… polyphenol rượu vang đỏ cung cấp trong phần ẩm thực của chuột trong 16 tuần lễ kềm chế các chất gây ung thư kết tràng gây ra bởi azoxymethane hoặc dimethylyhydrazine. Các con vật được trị liệu với polyphenol nhất quán với kết quả bướu thấp hơn so sánh với các nhóm kiểm soát đối chiếu.” Họ cũng ghi nhận, là “polyphenol rượu vang cung cấp cho các con chuột không được trị liệu các chất gây ung thư, sản sinh ra một sự giảm đi đáng kể  trong cấp độ cơ bản tổn hại ô-xýt hóa ADN của chất nhớt kết tràng (giảm đi vào khoảng 62%)” (Mutation Research, 2005).
Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện thêm là các hiệu ứng của chiết xuất rượu vang đỏ bằng cách nghiên cứu mô tả sơ lược sự ép buộc trên gien. Thật là thú vị, họ nhận thấy rằng hai hướng điều hòa chính được điều hòa giảm đi trong chất nhớt ở kết tràng của các con chuột được trị liệu với rượu vang đỏ: các phản hồi về viêm nhiễm và sự chuyển hóa steroid. (Điều hòa giảm đi là tiến trình đưa tới kết quả trong việc gien giảm đi và sự ép buộc protein đáp ứng). Họ cũng nhận thấy rằng sự điều hòa giảm đi của nhiều gien điều hòa sinh kháng thể ở bề mặt tế bào, các enzim trao đổi chất, và sự đáp ứng của tế bào đối với áp lực ô-xýt hóa. Các nhà nghiên cứu kết kuận rằng, “Sự giảm thiểu tổn hại về ô-xýt hóa, điều hòa quần thể kết tràng, và biến đổi trong sự ép buộc gien tất cả có thể cùng xảy ra trong sự điều hòa chức năng ruột và các chất gây ung thư bởi polyphenol rượu vang đỏ.”
Vào năm 2000, một đội nghiên cứu do TS. L. Giovannelli tại University of Florence điều tra về hiệu ứng của chiết xuất rượu vang đỏ về tổn hại ADN (European Journal of Nutrition, 2000). Họ đã xem xét các hiệu ứng của phức hợp polyphenol và tannin trong rượu vang đỏ và trà trong sự tổn hại ô-xýt hóa ADN trong chất nhớt ở kết tràng của loài chuột. Các kết quả cho thấy rằng polyphenol rượu vang và tannin gây nên sự giảm thiểu đáng kể (62 phần trăm đối với pyrimidin và 57 phần trăm đối với chắt ô-xýt hóa purin) trong tổn hại trong cơ bản ô-xýt hóa ADN trong các tế bào kết tràng mà không ảnh hưởng đến cấp độ cơ bản của các gián đoạn sợi-đơn hoặc ô-xýt hóa pyrimidin trong các tế bào chất nhớt kết tràng. Các nhà nghiên cứu kết luận, “Polyphenol trong ẩm thực có thể điều phối các tổn hại ô-xýt hóa trong cơ thể sống trong bó bao tử-ruột của loài gặm nhấm. Các dữ liệu này hỗ trợ giả thuyết polyphenol trong ẩm thực vừa có tiềm năng bảo vệ và trị liệu các tổn hại ô-xýt hóa có liên quan đến khoa nghiên cứu bệnh tật của cơ thể.”
Đầu năm 1998, TS. H. Kamei và đồng nghiệp ở Khoa Phẫu thuật, tại Bệnh viện trường Đại học Aichi-Gakuin, Nagoya, Nhật Bản đã báo rằng khi các tế bào ung thư kết tràng và các tế bào ung thư bao tử được cấy trong chiết xuất rượu vang đỏ, sự tăng trưởng của tế bào ung thư được làm giảm sút đáng kể. (Cancer Biotherapy and Radiopharmaceuticals, 1998)
Một chất ô-xýt hóa khác trong chiết xuất rượu vang đỏ, resveratrol, được nghiên cứu với phạm vi rộng như là chất ngăn ngừa ung thư. Resveratrol đã chứng tỏ là can thiệp với ba giai đoạn của các chất gây ung thư – khởi đầu, xúc tiến, và tiến triển.

Quả việt quất chống lại các Cơ chế Ung thư          
            Nhóm nghiên cứu của Đại học Illinois lần này do TS. J. Bomser hướng dẫn cũng cho ta thấy rằng nước vắt của quả việt quất làm tăng các enzim làm giảm độc tính của các chất gây ung thư và giảm đi các mức độ của các enzim xúc tiến sự tăng trưởng của bướu. (Planta Medica, 1996). Các OPC trong trái việt quất là có trách nhiệm cho sự giảm đi sự tăng trưởng của bướu. Các nhà nghiên cứu kết luận, “Như thế, các thành phần của hexane/ phần nhỏ của chloroform của trái việt quất và của thành phần nhỏ của proanthocyanidin của các các bụi cây việt quất thấp nhỏ, cây nam việt quất, và lingonberry kềm chế hoạt động chống chất gây ung thư như đã được kiểm nghiệm sàng lọc trong ống nghiệm.”
            Như các bạn đã biết, có sự phát triển về chứng cứ khoa học với khối lượng đồ sộ rằng là OPC rất hiệu dụng trong việc giảm thiểu nguy cơ về ung thư. Chúng hoạt động theo một số phương thức nhưng chủ yếu là thông qua hiệu ứng chống ô-xýt hóa mạnh mẽ của chúng trong việc bảo vệ các thành phần của cơ thể, chẳng hạn như ADN chống lại các tổn hại của gốc tự do, và cũng bằng cách kiểm soát các gien tăng tốc cho ung thư.     





CHƯƠNG 4
LÀM CHẬM LẠI TIẾN TRÌNH LÃO HÓA

            Các gốc tự do là các phân tử nguy hiểm làm cho chúng ta bị lão hóa và gây nên bệnh tật. Các OPC tiêu diệt các gốc tự do, và trong hành động đó, có thể làm chậm lại tiến trình lão hóa. Nghiên cứu của tôi vào thập niên 1960 cho thấy những tổng hợp chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa kéo dài tuổi thọ trung bình của động vật thí nghiệm vào khoảng 20 đến 30 phần trăm và tuổi thọ tối đa lên từ 5 đến 10 phần trăm (American Laboratory, 1971). Trong những nghiên cứu tương tự tôi đã khám phá ra rằng chất selen khoáng chất nguyên gốc và các tổng hợp nhất định các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa có thể giảm thiểu đột ngột tỉ lệ mắc bệnh của nhiều bệnh ung thư.
            Vào thời điểm đó, các OPC chưa sẳn có để nghiên cứu. Bởi vì các chất chống ô-xýt hóa trong OPC mạnh hơn nhiều so với các chất mà tôi đang dùng, giờ đây tôi muốn lặp lại những nghiên cứu. Tuy nhiên, các ngưòi khác đang nghiên cứu với OPC. Một số nghiên cứu đang được thực hiện với phức hợp có tác động mạnh của OPC, Pycnogenol®, nhưng thiên về lão hóa hơn là tuổi thọ. Tôi sẽ sớm thảo luận về những nghiên cứu này.
            Mục đích là gia tăng chất lượng của cuộc sống, cũng như chiều dài tuổi thọ. Chúng ta muốn thêm nhiều năm tháng vào cuộc sống của chúng ta, chúng ta cũng muốn thêm nhiều sinh lực vào những năm tháng của chúng ta. Làm chậm đi tiến trình lão hóa là tất cả những gì khiến cuộc sống tốt hơn và lâu hơn.

Các gốc tự do gây nên lão hóa như thế nào
            Không có điều kiện vật chất và tinh thần nào có thể trực tiếp đơn giản được qui cho sự chuyển trạng thái của thời gian. Không phải là sự chuyển trạng thái của thời gian lão hóa chúng ta, nó chính là sự tích lũy các khả năng có thể xảy ra của các chất hóa học độc hại làm cho cơ thể của chúng ta lâm vào tình trạng xấu hơn mà chúng ta gọi là lão hóa. Một số các bệnh tật hoặc rối loạn được khẳng định mà không chứng minh được kết hợp với lão hóa có thể xảy ra trong giới trẻ. Trẻ em có thể mắc bệnh ung thư, áp huyết cao, viêm khớp, và những bệnh tương tự như thế, cho nên nó không đơn thuần là số lượng năm tháng. Thế thì là lão hóa chăng?
            Lão hóa là tiến trình gây giảm thiểu một lượng tế bào khỏe mạnh trong cơ thể. Nhân tố gây chấn động nhất trong tiến trình lão hóa là sự mất đi sự thay đổi ngược lại của cơ thể do bởi sự giảm đi số lượng tế bào trong mỗi cơ quan. Chẳng hạn như mức độ đường trong cơ thể tăng nhanh (đường huyết) tồn tại khá nhất quán trong suốt cuộc đời, nhưng sự đo lường dung sai về glucoza cho thấy có sự mất đi sự đáp ứng khi lão hóa. Dung sai glucoza đo lường khả năng của hệ thống theo trình tự ngược lại của sự đáp ứng áp lực của dung lượng glucoza được dùng để gây thách thức đối với hệ thống trong thử nghiệm. Sự giảm xuống tương tự vẫn duy trì đúng đối với các cơ chế phục hồi của các hệ thống khác. Nói một cách đơn giản, tiến trình lão hóa là sự mất đi khả năng đáp ứng sự thách thức của cơ thể đối với hiện trạng (homeostasis). Khối lượng các tế bào hoạt động khỏe mạnh trong mỗi cơ quan thoái hóa khi con người già đi, như vậy chức năng của cơ quan bị giảm thiểu.
            Giờ đây nảy sinh vấn đề, cái gì gây nên sự mất đi việc trở ngược về nguyên trạng cũ? Các phản ứng của gốc tự do đưa đến kết quả là sự mất đi các tế bào tích cực của cơ thể. Hiệu ứng tích lũy của hàng tỉ phản ứng của tế bào gốc tự do là nguyên nhân của sự mất đi các tế bào. Việc này xảy ra trong một số cách.
  1. Gốc tự do gây tổn hại cho các màng của tế bào có thể làm suy yếu khả năng vận chuyển các chất dinh dưỡng của tế bào vào trong các tế bào và tế bào bị chết vì không có gì để thay thế cho chính nó.
  2. Gốc tự do gây tổn hại cho các màng của tế bào có thể làm suy yếu khả năng vận chuyển các chất thải ra khỏi tế bào, như thế tế bào không thể đè nén trong chính chất thải của nó. Kết quả là tế bào bị chết vì không có gì để thay thế cho chính nó.
  3. Gốc tự do gây tổn hại cho ADN của tế bào cho nên thay vì tế bào được thay thế bởi một tế bào khỏe mạnh cùng loại, tế bào bị thay thế với một tế bào đột biến và tế bào đó không hoạt động một cách chính xác.
  4. Gốc tự do gây tổn hại cho bao lysosome (màng) và thải ra các lysosome chết là các enzim tiêu diệt các thành phần của tế bào khác. Việc này để lại tế bào rỗng, không có các phần hoạt động và nó không thể được thay thế. Tế bào trở nên trơ trơ và cơ thể trở nên một tế bào già hơn.
  5. Gốc tự do có thể nấu chảy các protein với nhau và như thế protein không còn hoạt động đúng nhiệm vụ. Việc này có thể gây tổn hại cho tế bào nên tế bào không thực hiện và không thể tái sinh với sự thay thế khỏe mạnh được.

Kết quả của nhiều phản ứng của gốc tự do đó là số lượng tế bào hoạt động trong cơ thể giảm đi. Việc này tương tự như các bóng đèn điện trong một rạp hát bị đốt cháy lần lượt từng chiếc một. Trong thời gian thông điệp này vẫn được đọc, nhưng một số bóng đèn bị đốt rụi đi, cuối cùng thông điệp không còn được nhận thức rõ nữa. Trong cơ thể, các tế bào trong mỗi cơ quan suy thoái nhưng cơ quan vẫn còn hoạt động cho đến phút cuối.

Các lợi ích chống lão hóa của OPC
            Ngoài các lợi ích về sức khỏe của OPC ra, còn cũng còn có những lợi ích “mang tính trang điểm” nữa. Một phức hợp OPC, Pycnogenol, thường được gọi là “sinh tố cho da” hoặc là “mỹ phẩm dùng để uống” bởi vì nó tái tạo các mô biểu bì, tạo cho chúng linh hoạt và mượt mà hơn, khiến cho làn da trông trẻ hơn và mạnh khỏe hơn. Nó không thể xóa hết đi những nếp nhăn sâu hoặc sửa chữa các tổn hại thường xuyên do mặt trời tạo nên, nhưng nó có thể giúp cho làn da mạnh khỏe và mượt mà hơn.
            OPC có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống theo nhiều cách, cũng như giúp giảm thiểu các hiểm nguy của các bệnh gây chết người.
            Thực là không thực tế khi nghiên cứu về con người theo các nghiên cứu khoa học về tuổi thọ bởi vì những nghiên cứu này chiếm quá nhiều thời gian và có quá nhiều biến số. Các nhà khoa học nhận thấy thực tế hơn với việc nghiên cứu thực nghiệm với động vật có tuổi thọ ngắn hơn. Thông thường các nghiên cứu bắt đầu với con ruồi giấm, một loài ruồi trái cây, và sau đó, nếu những nghiên cứu này có triển vọng, thực nghiệm trên loài gặm nhấm được nghiên cứu.
            Các nghiên cứu về tuổi thọ với OPC đang bắt đầu, TS. Shuguang và các đồng nghiệp Trung quốc của ông ta nhận thấy rằng Pynogenol gia tăng tuổi thọ trung bình của loài ruồi giấm lên 13 phần trăm (European Bullentin of Drug Research, 2003). Việc này được xem như tương đương với sự gia tăng gần tám năm đối với con người với tuổi thọ là bảy mươi năm. Thật là một chặng đường dài từ giống ruồi trái cây đến con người, nhưng ít nhất nghiên cứu này chứng tỏ rằng thêm nhiều nghiên cứu được bào chữa.
            Pynogenol hầu như có thể gia tăng tuổi thọ gián tiếp bằng cách gia tăng mức độ tế bào của các chất chống ô-xýt hóa superoxide dismutase và glutathione, cũng như trực tiếp chặn đứng các gốc tự do khắp cơ thể.     
            Có nhiều loại bệnh liên quan đến lão hóa. Bệnh Alzheimer đang gia tăng đến mức báo động. Một số nghiên cứu đang được tiến hành nghiên cứu về các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa. Còn quá sớm để có thể nói về kết quả của những nghiên cứu này, nhưng những tín hiệu sơ bộ ban đầu đáng khích lệ. Các nhà nghiên cứu biết rằng Pynogenol che chở cho các tế bào não khỏi các sức ép ô-xýt hóa của các gốc tự do. Một trong những đặc trưng của bệnh Alzheimer đó là sự tích lũy protein beta-amyloid. TS. David Schubert và các đồng nghiệp của ông ta tại Salk Institute of Biological Studies ở San Diego nhận thấy rằng Pycnogenol hoạt động có hại của chất protein đó chống lại các tế bào não trong các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm (Liu và cộng sự, 1998, 1999).
            TS. Lester Packer và các đồng nghiệp của ông ta tại University of CaliforniaBerkeley nhận thấy rằng Pynogenol bảo vệ các tế bào não khỏi sự tổn hại từ sự thặng dư glutamate. Glutamate là nhân tố cần cho sự sống khi tồn tại với số lượng nhỏ, nhưng nó sẽ có hại với nồng độ cao (Kobayashi và cộng sự, 2000).
            Lão hóa cũng giảm kỹ năng nhớ ở nhiều người. Các nghiên cứu về học và nhớ ở động vật là những chứng tỏ tốt cho những gì được áp dụng cho con người. TS. Benjamin Lau và các đồng nghiệp của ông ta tại Loma Linda UniversityCalifornia đã điều tra về khả năng nhớ và khả năng học của chuột. Họ khám phá ra rằng các con chuột lớn tuổi được cho dùng Pynogenol trong hai tháng hầu như duy trì cấp độ trí óc của các con chuột còn trẻ (Liu và cộng sự, 1999)

Chiết xuất rượu Vang đỏ và Lão hóa
            Thêm vào cho OPC trong rượu vang đỏ một chất chống ô-xýt hóa khác được gọi là resveratrol đã đi vào nghiên cứu chống lão hóa một cách nổi bật trong vài năm gần đây. Vào năm 2006, một nghiên cứu đặc biệt đã được công bố trong tạp chí chuyên đề khoa học được nhiều kính trọng Nature lôi kéo sự chú ý rộng rãi và được gọi là “sự đột phá của năm”. Nghiên cứu được sự tài trợ của National Institute of Health (NIH) và người dẫn đạo là TS. David Sinclair của Havard Medical School. Trong nghiên cứu này, các con chuột dược tiếp nhận resveratrol và chế độ ẩm thực giàu chất béo sống lâu hơn 31 phần trăm và duy trì cùng chất lượng đời sống của những con vật được nuôi với chế độ chất béo thấp. Thật ra, resveratrol đảo ngược 144 trong 153 gien được kích hoạt khi tiêu thụ chế độ ẩm thực giàu chất béo.
            TS. Sinclair phát biểu, “Các lợi ích về ‘nhịp sức khỏe’ chúng ta thấy trong các con chuột béo phì [được nuôi] với resveratrol, chẳng hạn như tính nhạy cảm với insulin được gia tăng, các cấp độ gia tăng đường, [và] trái tim và các mô gan mạnh khỏe hơn là các chỉ thị lâm sàng tốt nhất và có thể có nghĩa là chúng ta có thể phòng ngừa các bệnh liên quan đến tuổi già của con người như bệnh tiểu đường loại 2, bệnh tim, và ung thư, nhưng chỉ có thời gian và thêm nhiều nghiên cứu mới có thể trả lời”.
            Nghiên cứu được công bố ra công chúng vào ngày 1 tháng 11 năm 2006 nhìn vào các hiệu ứng của việc nuôi các con chuột trung niên (năm mươi hai tuần lễ) với một trong ba chế độ ẩm thực: chế độ ẩm thực tiêu chuẩn cho chuột, chế độ ẩm thực giàu calorie (chất béo), và chế độ ẩm thực giàu calorie (chất béo) cùng với sự bổ sung resveratrol.
Vào độ tuổi sáu mươi tuần lễ, các nhà nghiên cứu báo cáo rằng biên độ sống còn của các nhóm giàu calorie và giàu calorie có bổ sung resveratrol bắt đầu  khác nhau, với nhóm được bổ sung resveratrol cho thấy thuận lợi sống còn thêm ba đến bốn tháng nữa.
Khi các con chuột đạt đến “tuổi già” (114 tuần lễ), TS. Joseph Baur, đồng nghiên cứu báo cáo rằng hơn 50 phần trăm các con chuột được nuôi bằng chế độ ẩm thực giàu chất béo đã chết so sánh với ít hơn 33 phần trăm của nhóm với chế độ ẩm thực giàu calorie (chất béo) có bổ sung resveratrol.
Baur báo cáo rằng các con chuột theo chế độ ẩm thực giàu calorie (chất béo) mà không có bổ sung resveratrol được nhận thấy có cấp độ huyết tương gia tăng insulin, đường, và nhân tố tăng trưởng loại tương cận với insulin (IGF) 1 – các chỉ dấu cho việc tiên đoán sự khởi đầu của bệnh tiểu đường nơi con người – khi so sánh với các thành phần tương đương với trọng lượng dư của họ được bổ sung với resveratrol.
Các nghiên cứu bệnh lý về các mô tim của chuột trong ba nhóm ẩm thực cho thấy rằng lượng dư thừa chất béo bị thương tổn, xuống cấp, và viêm nhiễm thấp đáng kể so với chế độ ẩm thực tiêu chuẩn và nhóm được bổ sung với resveratrol (1,6 và 1,2 điểm trên thang tỉ lệ từ 0 đến 4), so sánh với nhóm với chế độ ẩm thực giàu calorie (3,2 điểm).
TS. Rafael de Cabo của National Institute on Aging của NIH đã nói, “Sau sáu tháng, resveratrol ngăn chặn chủ yếu hầu hết các hiệu ứng âm tính với chế độ ẩm thực giàu calorie,”  
“Nghiên cứu này cho thấy lượng nhỏ phân tử có sẳn dùng bằng đường miệng với các liều lượng có thể đạt được trong con người có thể giảm thiểu an toàn nhiều hệ quả âm tính của lượng thặng dư calorie nạp vào, với một sự cải thiện tổng quát trong sức khỏe và sống còn,” kết luận của các nhà nghiên cứu.
Những nghiên cứu trước đó với chất chống ô-xýt hóa resveratrol trong rượu vang đỏ được tập trung vào kéo dài tuổi thọ của nhiều hình thức sống cơ bản. Các cơ chế của hiệu ứng rõ ràng của resveratrol trên việc kéo dài cuộc sống chưa được hiểu đầy đủ, nhưng chúng tương tự một số các hiệu ứng hóa sinh của sự giới hạn calorie. Điều này hình thành hoạt động bởi cách kềm chế enzim do tuyến tụy và các tuyến trong ruột non tiết ra, chúng giảm thiểu sự thẩm thấu chất béo qua thành ruột.
Vào năm 2003, TS. Sinclair đã công bố (cũng trong Nature) rằng resveratrol kéo dài đáng kể tuổi thọ của men Saccharomyces cerevisiae. Những nghiên cứu sau đó cho thấy rằng resveratrol kéo dài tuổi của sâu Caenorhabditis elegans và ruồi giấm Drosophila melanogaster. Vào năm 2006, resveratrol cũng cho thấy kéo dài tuổi thọ tối đa của một loài cá sống ngắn ngày, Nothobranchius furzeri, vào khoảng 59 phần trăm, và kéo dài tuổi thọ trung bình vào khoảng 56 phần trăm. Cũng được ghi nhận trong loài cá, đó là sự gia tăng trong việc thực hiện bơi lội, một sự gia tăng trong thực hiện nhận biết (các tác vụ học tập), và sự thiếu đi xuống cấp sợi nguyên thần kinh, hoặc các rối loạn (được tìm thấy trong nhóm kiểm soát đối chứng). Các nhà nghiên cứu quan sát thấy rằng sự bổ sung “resveratrol” vào thực phẩm kéo dài tuổi thọ loài có xương sống và trì hoãn dây thần kinh vận động và nhận biết, và có thể là thích hợp cao cho việc ngăn ngừa các bệnh có liên quan đến sự lão hóa trong quần thể con người.”
Chứng cứ  đã củng cố trên bốn mươi năm qua rằng các gốc tự do đẩy nhanh tiến trình lão hóa và ít nhất là nhân tố thứ cấp, không muốn nói là nhân tố chủ yếu trong lão hóa. Bằng cách giảm thiểu các tổn hại của gốc tự do với các tổng hợp chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa bao gồm OPC, các bạn có thể hy vọng cộng thêm mười lăm năm sống khỏe mạnh vào tuổi thọ của mình. Các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa đặc biệt có hiệu ứng trong việc cân bằng các nhân tố môi trường đẩy nhanh lão hóa. Hãy nhớ rằng mục tiêu chính không phải là kéo dài tuổi thọ nhưng là sự khỏe mạnh trong tuổi thọ. Các OPC giảm thiểu nhiều bệnh tật và các rối loạn có liên quan đến lão hóa, cũng như các dấu hiệu của lão hóa như sự nhăn da. Trong chương kế tiếp chúng ta sẽ nhìn vào vai trò của OPC trong việc gìn giữ da của chúng ta khỏe mạnh và dáng vẻ trẻ trung hơn.       
      
 


CHƯƠNG 5
Giữ gìn Da của chúng ta Khỏe mạnh và Dáng vẻ Trẻ trung
hơn

Các chất OPC cực kỳ quan trọng  đối với làn da khỏe mạnh và vẻ đẹp bên ngoài của nó. Như đã được đề cập trước đây, một phức hợp OPC, Pynogenol®, thường được gọi là “sinh tố cho da” hoặc là “mỹ phẩm dùng để uống” bởi nhiều người sử dụng. Tuy nhiên, như đã được giải thích trước đây, các chất OPC không thực sự là các sinh tố. OPC giúp tái tạo các mô của da, tạo cho chúng linh hoạt và mượt mà hơn, khiến cho làn da trông trẻ hơn và mạnh khỏe hơn. Nó không có thể xóa hết đi những nếp nhăn sâu hoặc sửa chữa các tổn hại thường xuyên do mặt trời như tạo nên actinitic keratosis (tình trạng da tiền ung thư), nhưng nó có thể giúp cho làn da mạnh khỏe, sống động, và mượt mà hơn.
            Các chất OPC cải thiện khả năng thẩm thấu của các mạch máu nhỏ bằng cách cải thiện sự sản xuất các chất liệu nền (một loại kết dính liên tế bào) giữa các tế bào và xúc tiến và bảo vệ hai protein của da, collagen và elastin.
            Cộng thêm vào các tiện ích bảo vệ chống lại các gốc tự do có thể ngăn ngừa sự tổn hại cho da, OPC liên kết collagen và elastin và bảo vệ những protein này khỏi nhiều enzim có thể làm hỏng chúng. Hành động này giảm thiểu sự mỏng đi của da được phát triển trong tiến trình lão hóa. Các OPC giúp cho da tái tạo lại độ dày và độ đàn hồi của da. Độ dày và tính đàn hồi của da thì cần thiết cho sự mịn màng của da.

Các Gốc tự do làm Già đi Làn da như thế nào
Khi da lão hóa, nó mất đi độ đàn hồi của nó. Cơ bản điều này do bởi các hiệu ứng tích lũy của sự phô ra dưới ánh sáng mặt trời, khiến thay đổi cấu trúc của da và giảm đi lượng protein của da được sản sinh ra. Các bạn có thể dễ dàng nhận thấy hiệu ứng này. Khi làn ra trẻ trung bị đè nén và kéo lên, nó sẽ trở lại như cũ nhanh chóng. Khi da  già đi cũng với sự  đè nén tương tự nó sẽ trở lại như cũ rất chậm chạp. Hãy thử việc này với làn da phía trên của bàn tay của những người với độ tuổi khác nhau. Da của bạn phản ứng như thế nào?
            Các bạn có từng bao giờ nhận thấy rằng da trên cổ của các nông dân và ngư phủ thì dày, cứng như da thật, và có các nếp nhăn sâu so sánh với làn da của nhân viên văn phòng chưa? Các bạn cũng có thể so sánh tuổi của da trên các khu vực khác nhau của chính cơ thể của mình. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng da của cơ thể chúng ta đều cùng một độ tuổi với tuổi theo thứ tự niên đại, nhưng sự thật là một số tế bào thì mới hơn so với các tế bào khác.
            So sánh sự mịn màng của làn da ở khu vực phô ra dưới ánh sáng mặt trời, chẳng hạn như phía sau gáy với làn da khu vực được bảo vệ chống lại tia nắng của mặt trời, chẳng hạn như ở mông. Mặt trời là nhân tố tạo nên sự khác biệt, bằng cách khiến cho các gốc tự do làm chảy các phân tử của protein collagen của da và kết lại với nhau. 
            Protein trong làn da tươi trẻ trượt tự do qua nhau và trở lại chiều dài thông thường sau khi bị kéo giãn ra. Và với thời gian trôi qua sau khi phơi ra dưới mặt trời nhiều lần, năng lượng tia cực tím trong ánh sáng mặt trời phản ứng với các chất béo trong da sản sinh ra các gốc tự do. Những gốc tự do này gây tổn hại cho protein trong da và kết nối các protein lại với nhau. Những protein bị tổn hại không trượt qua nhau dễ dàng và bật lại với nhau. Đây là khi các hiệu ứng bảo vệ mạnh mẽ của OPC đóng vai trò tiêu diệt các gốc tự do, như thế sẽ giảm đi sự tổn hại của mặt trời đối với da.

Các Hiệu ứng Bảo vệ da Cộng thêm của OPC
            Hiệu ứng bảo vệ này có thể kéo dài để bảo vệ trực tiếp chống lại sự cháy nắng. Những người được bảo vệ tốt bởi các chất chống ô-xýt hóa nhận thấy rằng da của họ không bị “cháy nắng” trong ánh sáng mặt trời. Cháy nắng là sự viêm nhiễm do kết quả từ các gốc tự do được sản sinh từ hiệu ứng của ánh sáng mặt trời trên các chất béo trong da. Các tổn hại của gốc tự do có thể được giới hạn bằng hiệu ứng lọc sạch chất bẩn  của các chất chống ô-xýt hóa. Các nghiên cứu chứng tỏ rằng thời gian phơi ra để có thể bị cháy nắng triển khai, có thể được gia tăng với các OPC, các OPC sẽ không là sự bảo vệ duy nhất chống lại mặt trời. Việc sử dụng chất ngăn chặn mặt trời như đội nón, và một sự cảnh báo về thời gian phơi ra nắng thì cũng quan trọng.
            Hãy nhớ rằng hút thuốc làm co thắt các mạch máu của da và đưa tới các vết nhăn khi còn trẻ. Mặt khác, các OPC tạo điều kiện cho máu lưu thông trong da và giúp cho da được nuôi dưỡng tốt. Tuy nhiên, còn có thêm nhiều điều mà các OPC có thể làm để cải thiện dáng vẻ bên ngoài. Chúng ta hãy nhìn vào dưới da.    

CHƯƠNG 6
Cải thiện sức khỏe cho tĩnh mạch

            Ngoài sự bảo vệ chống lại nhiều bệnh tật ra, các chất OPC cũng giúp bảo vệ chống lại chứng giãn tĩnh mạch và méo mó tĩnh mạch và giúp giảm thiểu tính khốc liệt của các vết thương nhỏ. Trên sáu mươi năm bioflavonoid được biết về khả năng của chúng cải thiện sức khỏe cho tĩnh mạch. Các OPC được biết về khả năng của chúng cải thiện sức khỏe cho tĩnh mạch, giúp sửa chữa một số tĩnh mạch bị chứng giãn tĩnh mạch, và giảm thiểu sự cố của các tĩnh mạch lâm vào chứng giãn tĩnh mạch. Mười lăm nghiên cứu lâm sàng về các rối loạn về chứng giãn tĩnh mạch đã được tiến hành chỉ riêng với phức hợp OPC Pycnogenol, vai trò đó hoặc là tác nhân độc lập hoặc là tác nhân phối hợp với sinh tố C trong việc bảo dưỡng sức khỏe cho các mao mạch. TS. Miklos Gabor của Albert Szent-Györgyi Medical UniversityHungary đã thực hiện nhiều nghiên cứu trong nhiều năm chứng minh rằng Pynogenol cải thiện tính năng thẩm thấu của mao mạch, và giảm thiểu khả năng rò rỉ của mao mạch và xuất huyết nhỏ.
            Các mạch máu nhỏ không được thiết kế để hàn gắn chống lại sự rò rỉ. Các mạch máu này là giao diện giữa dòng máu và ôxy, chất dinh dưỡng, và các sản phẩm chất thải. Các mao mạch bắt buộc phải thấm được đủ để cho phép dòng chảy rỉ qua các mao mạch, trộn với chất lỏng bao quanh các tế bào, và rồi đi lại vào các mao mạch. Nếu các mao mạch thấm qua quá nhiều, quá nhiều chất lỏng và protein rỉ qua, gây nên phù (sưng phù), và ngay cả các tế bào hồng cầu cũng có thể rỉ ra có thể gây nên các vết thâm, vết đỏ (đốm xuất huyết), hoặc ngay cả hematomas.
            TS. Gabor đo lường sự thẩm thấu chất lỏng qua các mao mạch bằng cách dùng một dụng cụ mà ông ta chế tạo được gọi là dụng cụ đo các đốm máu, bằng cách áp một cáí bình trên một khu vực nhỏ trên da. Sức mạnh của cái bình có thể thay đổi. Sức trên bình càng lớn để có thể tạo nên đốm huyết, sức mạnh của mao mạch càng lớn. TS. Gabor và đồng nghiệp của ông ta nhận thấy rằng Pycnogenol cải thiện sức mạnh của các mao mạch trong vòng hai tiếng và duy trì lâu hơn tám giờ đồng hồ. Họ mô tả các khám phá của họ trong tạp chí chuyên ngành Phlebologie vào năm 1993.           
Các OPC Cải thiện các Triệu chứng của sự Thiếu máu trong Tĩnh mạch Kinh niên
TS. Feine-Haake nghiên cứu lợi ích của 30mg Pycnogenol được cung cấp ba lần một ngày (tổng số là 90 mg) trên 100 người với các triệu chứng về tĩnh mạch và các triệu chứng khác của sự thiếu máu trong tĩnh mạch (CVI). Tám mươi phần trăm cho thấy một sự cải thiện rõ ràng, và chín mươi phần trăm cho thấy rằng chứng vọp bẻ về đêm ở chân của họ đã biến mất.
            Pycnogenol gúp duy trì tất cả các mạch máu khỏe mạnh và giảm thiểu việc sưng phù ở chân, góp phần vào sự phát triển cùa chứng giãn tĩnh mạch. Ở các nghiên cứu có tính cách loại trừ sai lầm và kiểm soát đối chứng dùng thuốc trấn an, người ta đã cho thấy rằng Pycnogenol cải thiện rất lớn các triệu chứng CVI (Arcagenli, 2000; Petrassi và cộng sự, 2000).
            Các nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu trên động vật trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng Pynogenol giảm thiểu sự giữ nước và sưng ở chân do bởi chứng phù, bằng cách củng cố các mao mạch và ngăn ngừa rò rỉ các chất lỏng (Gabor và cộng sự, 1993; Blazso và cộng sự, 1994; 1997; Arcagenli, 2000; Petrassi và cộng sự, 2000).
            Các khám phá được công bố vào tháng 7, năm 2006 trên tạp chí chuyên ngành Clinical and Applied Thrombosis/Hematosis cho thấy sự giảm thiểu đáng kể triệu chứng CVI ở các bệnh nhân sau khi bổ sung Pynogenol. Các kết quả từ nghiên cứu này cho thấy Pynogenol hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu sung phù, bó chẹt bắp chân, sự biến đổi da, đau đớn khi đi, sưng phù chân hơn với Daflon, một tổng hợp bioflavonoid diosmin và hesperidin, và một toa thuốc thông thường được kê dùng để chữa trị CVI.
            Vào khoảng 500.000 người ở Hoa Kỳ đang phát triển lở loét ở chân do bởi CVI. Nếu không được chữa trị, chân và mắt cá chân sưng lên và đưa đến các tình trạng nguy hiểm chẳng hạn như chứng bệnh huyết khối nặng trong tĩnh mạch (DVT, xin vui lòng xem chương kế tiếp chi tiết hơn về tình trạng này). Các nghiên cứu trước đây cho thấy Pycnogenol hiệu quả trong việc khuyến khích cải thiện tuần hoàn máu và giúp ngăn ngừa DVT liên quan việc di chuyển. Giống như chứng giãn tĩnh mạch, các tĩnh mạch hình nhện cũng triển khai nếu chứng sưng phù không được chữa trị.
            “Sự thiếu máu tĩnh mạch kinh niên được gây ra  khi các tĩnh mạch ở chân không bơm đủ lượng máu trở về tim. Khi người ta không hoạt động, máu tụ lại ở các tĩnh mạch ở chân, chân và mắt cá sưng phồng lên,” TS. Peter Rohdewald, một nhà nghiên cứu đã phát biểu. “Cuối cùng một số van không thể nâng trọng lượng máu thặng dư, trọng lượng này sau đó gia tăng áp suất lên trên các van về phía dưới. Cuối cùng thì không đủ khả năng ngăn chất lỏng trong máu rò rỉ sang các mô, đó là nguyên nhân gây nên sự sưng phù, một tình trạng thông thường của CVI.”
            Các nhà nghiên cứu ở L’Aquila University ở Ý đã tiến hành một phân tích so sánh bằng cách bổ sung cho tám mươi sáu bệnh nhân bị chứng bệnh CVI nặng hoặc với Pynogenol hoặc với Daflon. Mỗi nhóm được bổ sung mỗi ngày trong tám tuần lễ. Các bệnh nhân được bổ sung với Pynogenol nhận hoặc là 150mg hoặc 300mg, trong khi bệnh nhân được bổ sung với Daflon là 1.000mg.
            Sự sưng phù ở mắt cá được đo trước 10 giờ sáng để tránh hiệu ứng sưng gây nên do đứng và đo lại sau mỗi ba mươi phút nghỉ ngơi và bàn chân được nâng lên. Các sự đo đạc được thực hiện vào lúc khởi đầu của việc nghiên cứu và sau bốn tuần và tám tuần của việc điều trị. Một kết quả hỗn hợp, tương tự được dựa trên các dấu hiệu và các triệu chứng (sưng phù, đau đớn, tứ chi không ngơi nghỉ, các việc sưng lên chủ quan, và thay đổi, vết đỏ ở da) do bệnh nhân thu thập. Sự đánh giá thứ hai do một thầy thuốc thực hiện.
            Sau tám tuần lễ điều trị, các bệnh nhân người được bổ sung Pynogenol giảm đi sự sưng phù mắt cá chân vào khoảng 35 phần trăm, trong khi chỉ có 19 phần trăm với sự bổ sung Daflon.   Một kết quả hỗn hợp cho chứng sưng phù bao gồm đau đớn, tứ chi không ngơi nghỉ, cảm giác sưng chân nặng nề, và các thay đổi ở da nhận thấy giảm đi 64 phần trăm với Pycnogenol, trong khi với Daflon trong khi chỉ có hiệu ứng phân nữa, hạ thấp chỉ số sưng phù hỗn hợp là 32 phần trăm. Nồng độ ôxy và cácbonít (CO2) bên dưới da ở phần dưới chân đã được tính theo các bộ cảm ứng áp vào da. Chữa trị với Pynogenol được nhận thấy gia tăng đáng kể các mô ôxy và hạ thấp CO2, chứng minh một sự cải thiện đáng kể trong tuần hoàn máu ở chân. Ngược lại, Daflon không đạt được hiệu ứng đáng kể nào về mô ôxýt hóa và rõ ràng không cải thiện tuần hoàn máu đối với chân.
            “Thật là thú vị, nghiên cứu này chứng minh rằng sự bổ sung với liều lượng rất cao Pycnogenol 300mg một ngày không đạt được hiệu ứng tốt hơn đáng kể so với 150mg Pycnogenol, với sự ngoại lệ của kết quả sưng phù hỗn hợp sẽ được cải thiện tốt hơn với liều lượng cao hơn,” TS. Rohdewald đã phát biểu.
            Sự kéo dài liên tục do bởi sự giãn nở tĩnh mạch thường xuyên. Các nghiên cứu trong quá khứ cho thấy rằng chữa trị chứng sưng phù với Pynogenol ngăn ngừa sự phát triển các mạch máu hình nhện. Pycnogenol cũng giúp ngăn ngừa           các mạch máu hình nhện phát triển lớn hơn và nổi trội. Khi chữa trị thành công chứng sưng phù, các áp suất gia tăng ở các tĩnh mạch được bình thường hóa, ngăn ngừa tĩnh mạch không bị gia tăng thêm kích cỡ.
“Pynogenol đã chứng minh cho tính hiệu quả và an toàn trong một số nghiên cứu lâm sàng, và các triệu chứng của CVI được giảm thiểu đáng kể bởi Pycnogenol so với các nghiên cứu kiểm soát đối chiếu. Chúng tôi rất vui khi nhìn thấy rằng không những Pycnogenol giảm thiểu các triệu chứng của CVI, nhưng [cũng] đưa ra các kết quả thành công đáng kể hơn các loại thuốc được kê toa cho việc chữa trị CVI,” TS. Rohdewald đã phát biểu.
Các OPC giúp duy trì sức mạnh của các mao mạch và tính thẩm thấu đúng đắn của các mao mạch. Một vết thâm tím đọng máu lại bên dưới bề mặt của da. Nếu các mao mạch rò rỉ quá nhiều, chất lỏng và protein có thể rò rỉ qua các mao mạch vào các không gian lân cận giữa các tế bào, như thế sẽ thay đổi áp suất thấm lọc bình thường. Cuối cùng, ngay cả các tế bào hồng huyết cầu có thể rò rỉ ra và tự phát gây nên vết thâm tím mà không trực tiếp thương tổn cho các mao mạch. Các OPC phục hồi tính thẩm thấu đúng đắn và giảm thiểu tỉ lệ mắc phải sự thâm tím tự phát. Với các mao mạch mạnh khỏe hơn, nó sẽ gây nên thương tổn nặng nề hơn gây tổn hại cho các tĩnh mạch và các mao mạch đủ để cho phép xuất huyết nhỏ vào các mô.

Các OPC Bảo vệ chống lại các Cục nghẽn trong Tĩnh mạch
Bởi vì các OPC cải thiện tuần hoàn máu và giữ cho máu lưu chuyển, nó có ích cho việc bảo vệ chống lại sưng phù mắt cá chân và các cục nghẽn trong tĩnh mạch trên các chuyến bay xa – cái được gọi là hội chứng loại vé tiết kiệm.
            Các hành khách di chuyển bằng máy bay nên xem xét đến việc uống Pycnogenol trước chuyến bay của mình và vào giữa chuyến bay nếu chuyến bay dài hơn bốn tiếng đồng hồ. Tôi đã nghe nói về nhiều người phát sinh các cục nghẽn trên các chuyến bay, một phần bởi vì mất nước và bay trong điều kiện bị co rút, và có nhiều sự tắt mạch nằm ở phổi một hay hai ngày sau chuyến bay vì cục nghẽn di chuyển từ tĩnh mạch ở chân và di chuyển khắp cơ thể.
                 Hội chứng loại vé tiết kiệm không giới hạn chỉ với các chuyến bay với loại vé tiết kiệm. Loại tình trạng này đã qui tội cho ít nhất là ba mươi cái chết trong ba năm tại chỉ một bệnh viện ở Luân Đôn, Anh Quốc. Ngồi yên trên máy bay khuyến khích cho máu tụ ở mắt cá chân. Thành của ghế có khuynh hướng giảm thiểu dòng chảy của máu qua các tĩnh mạch của chân. Một kết quả là mắt cá có thể bị sưng phù, nhưng kết quả xấu hơn đó là cục nghẽn có thể hình thành ở các tĩnh mạch sâu dưới chân (được biết hoặc là chứng bệnh huyết khối nặng trong tĩnh mạch, hoặc là DVT) và sau đó di chuyển như là một sự nghẽn mạch đến phổi và gây nên sự nghẽn mạch chết người ở phổi. Ngoài ra, sự giảm thiểu mức độ ôxy và sự gia tăng mức độ phát xạ ở các chuyến bay với cao độ gia tăng nhu cầu với sự bảo vệ chống ô-xýt hóa mạnh mẽ của các OPC.
            Khi các bạn bị giữ trong máy bay ở cao độ, các vi trùng từ hơi thở của những người lân cận trong nhiều giờ vào một thời điểm, vọt đi với sự phát xạ của vũ trụ, và thở với mức độ ôxy thấp, các bạn hoàn toàn nhờ vào lợi ích từ bổ sung thêm các OPC. Điều đầu tiên bạn cần chú ý là đôi giày của bạn có còn vừa vặn ở nơi đến hay không.  Các hãng hàng không nên phân phối chất bổ sung OPC trong các chuyến bay giống như họ phát kẹo ‘chewing gum’ giúp giảm ù tai khi áp suất thay đổi.    
    
CHƯƠNG 7
Bảo dưỡng sức khỏe cho mắt

            Thật là đáng kinh ngạc biết bao nhiều người đã được giới thiệu về các lợi ích của các bổ sung chất dinh dưỡng bởi vì họ đang phát triển các vấn đề về mắt. Sẽ còn có thêm nhiều như là ở vào độ tuổi con kanguru đực nhỏ. Mắt bị khô, bệnh tăng nhãn áp, và bệnh đục nhân mắt trở thành vấn đề khi qua tuổi năm mươi. Từ đó trở đi, các thoái hóa mờ điểm đen liên quan tới tuổi tác là một nguy hiểm thực sự.
Đôi mắt đặc biệt dễ bị nguy hiểm đối với các tổn hại của các gốc tự do vì chúng là nguồn của sự nhập vào nguồn năng lượng tử ngoại tuyến với năng lượng cao từ mặt trời  và với sự tuần hoàn máu tối thiểu. Thêm nữa, nhiều người đã tăng sự sợ hãi về lòng đỏ trứng, là một nguồn giàu chất chống ô-xýt hóa lutein và zeaxanthin là nhu cầu cho việc bảo vệ điểm đen.
Tin tức tốt lành là phức hợp OPC và Pynogenol® đã chứng tỏ cải thiện tính sắc bén của thị giác, giảm thiểu bệnh đục nhân mắt, ngăn ngừa bệnh màng lưới gây ra do bệnh tiểu đường, và đình chỉ sự làm hư hỏng chức năng của võng mạc có thể dẫn đến bệnh mù.
Cũng thêm nữa, sức mạnh chống ô-xýt hóa của Pycnogenol có thể giúp để dành sự thưa thớt trong ẩm thực carotenoid và zeaxanthin có liên quan đến thị giác, bảo vệ trung tâm thị giác, điểm đen trên mắt, như thế giảm thiểu nguy hiểm của sự thoái hoá điểm đen liên quan đến tuổi già.
Một cuộc thăm dò ý kiến đã liệt kê khả năng của sự mất thị giác như là sự sợ hãi thứ hai của các công dân lớn tuổi, đứng thứ hai sau nỗi sợ về bệnh ung thư. Các OPC có thể là quan trọng đối với sự bảo vệ của cơ thể chống lại cả hai nỗi sợ.      

Các kết quả của nghiên cứu “Đầu tiên về Mắt”  trong việc sử dụng OPC
            Một nghiên cứu có tính cách loại trừ sai lầm và kiểm soát đối chứng dùng thuốc trấn an được công bố trên Phytotherapy Research vào tháng 5 năm 2001 chứng minh rằng Pycnogenol cải thiện tính sắc bén của thị giác trong các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường, chứng xơ vữa động mạch, và các chứng bệnh khác (Spadea và Balestrazzi, 2001).
            Các tham số dùng đo lường sức khỏe của mắt bao gồm đồ thị thị giác Snellen (đo lường tính sắc bén của thị giác), phạm vi của thị giác, thuật soi đáy mắt, chụp X-quang flourít, và phép ghi điện đồ võng mạc. Những người được bổ sung 50mg Pycnogenol ba lần một ngày có được sự cải thiện tính sắc bén của thị giác hoặc chậm đi tỉ lệ mất đi sự tinh tế của thị giác so sánh với những người trong nhóm kiểm soát đối chứng chỉ dùng thuốc trấn an thay vì dùng Pycnogenol.
            Năm nghiên cứu lâm sàng được thực hiện ở Châu Âu cho thấy rằng Pycnogenol cải thiện rất lớn các triệu chứng trong các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường và mạch máu bệnh màng lưới, bệnh về điểm đen, và các rối loạn chức năng khác về thị giác. Thị giác của các bệnh nhân được chữa trị không những giảm đi nhiều, nhưng trái lại còn được cải thiện. (Spadea và Balestrazzi, 2001). Pycnogenol có thể cải thiện các tình trạng này bởi vì nó không những bảo vệ các tế bào còn khỏe mạnh chống lại các gốc tự do, nhưng nó còn hàn lại các xuất huyết nhỏ trong võng mạc nguyên nhân làm mờ đi thị giác.
            Ngoài ra, các nghiên cứu trong ống nghiệm chứng tỏ rằng tính hiệu nghiệm của các chất chống ô-xýt ngăn ngừa các tổn hại đối với các lipít rất nhạy cảm của võng mạc. Các nhà nghiên cứu ở Nhật Bản nhận thấy Pycnogenol là chất bổ sung hiệu quả nhất, bảo vệ các thành phần của cấu trúc của mắt tốt hơn nhiều so với chiết xuất hạt nho hoặc sinh tố C và E (Chida và cộng sự, 1999).
            Trong những nghiên cứu này với mô của võng mạc, Pycnogenol có hiệu quả gấp 1,5 lần so với catechin và ít nhất là 10 lần hiệu lực hơn chiết xuất hạt nho, 40 lần hiệu lực hơn so với sinh tố E, 350 lần hiệu lực hơn sinh tố C, và 1.000 lần hiệu lực hơn so với axít alpha-lipoic.
            Trong những nghiên cứu trong ống nghiệm trước đây, Pycnogenol được nhận thấy hiệu quả trong việc bảo vệ võng mạc hơn so với các chất chống ô-xýt hóa khác (Ueda và cộng sự, 1996).
             Bệnh đục nhân mắt có mối liên quan đến lão hóa, và cũng do các gốc tự do gây nên. Ánh sáng mặt trời là nguồn lực chính của các gốc tự do gây tổn hại cho thủy tinh thể của mắt. Một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng nhiều chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa giảm đi tỉ lệ mắc bệnh đục nhân mắt. Vì Pycnogenol là chất hòa tan trong nước, nó có thể rửa mắt với các chất tổng hợp chống ô-xýt hóa đầy sức mạnh của chúng.
            Một nghiên cứu được TS. J.R. Trevithick của University of Western OntarioCanada đã chứng tỏ rắng Pycnogenol giúp ngăn ngừa sự phát triển bệnh đục nhân mắt ở các con chuột mắc bệnh tiểu đường (Trevithick và cộng sự, 2000).

Trái Việt quất đối với Thị giác ban đêm
Đã có vào khoảng ba mươi sự thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu về khả năng trái việt quất cải thiện thị giác ban đêm. Các nghiên cứu chính thức không đem lại kết quả cuối cùng; một số nhà nghiên cứu đồng ý với lý thuyết của nó, các người khác bác bỏ nó. Các phi công trong Thế chiến thứ hai phát biểu nó là sự thật. Trong bất kỳ sự kiện nào, các OPC trong trái việt quất giúp bảo vệ carotenoid trong điểm đen của mắt và giảm thiểu các gốc tự do trong mắt mà các chất này có thể dẫn đến bệnh đục nhân mắt và bệnh màng lưới.
            Một số nghiên cứu ủng hộ dùng trái việt quất chống lại bệnh màng lưới gây ra bởi bệnh tiểu đường, và nó được kê toa dùng trong việc này ở Châu Âu. Chiết xuất trái việt quất cũng được nhận thấy là kềm giữ sự hình thành bệnh đục nhân mắt trong năm mươi tám hoặc năm mươi người bị bệnh đục nhân mắt lão suy vỏ não (một trong ba loại bệnh đục nhân mắt do lão suy). Một phê bình tốt về vai trò của trái việt quất về thị giác đối các thầy thuốc trong Alternative Medicine Review (www.thorne.com/altmed rev/.fulltext/6/5/500.html).
            Đôi mắt phơi trực tiếp ra dưới sự phát xạ tia cực tím rất mạnh và cần đến sự bảo vệ của các chất chống ô-xýt hóa thiên nhiên – các màu xanh, màu tím, màu nâu của bioflavonoid, và màu vàng và màu đỏ của carotenoid. Tuy nhiên, lịch sử của OPC không chấm dứt ở đây. Các OPC bảo vệ tránh khỏi nhiều bệnh và cũng như các rối loạn khác. Hãy nhìn thêm nhiều tính chất trong chương kế tiếp.  

CHƯƠNG 8
Giúp bảo vệ chống lại những gì
ngoài các bệnh tật liên quan đến lão hóa

Bệnh tiểu đường mellitus là một rối loạn mà trong đó cơ thể không thể chuyển hóa thức ăn thành năng lượng một cách đúng đắn. Tổn hại cho các tế bào hoặc đưa đến bệnh tiểu đường loại 1 (“juvenile = vị thành niên”) hoặc đưa đến bệnh tiểu đường loại 2 (“adult onset = sự công kích ở tuổi thành niên) có thể liên quan đến các phản ứng của các gốc tự do, nhưng một khi các tế bào của các tiểu đảo Langerhan của tụy tạng (loại 1) hoặc cơ chế mạch máu cho việc sử dụng insulin đã bị tổn hại, các chất chống ô-xýt hóa không thể đảo ngược lại tình hình này. Tuy nhiên, chính bệnh tiểu đường cũng sản sinh các gốc tự do gây tổn hại thêm cho cơ thể, gia tăng hiểm họa về cơn đau tim, tổn hại thần kinh (bệnh thần kinh do bệnh tiểu đường gây nên), bệnh đục nhân mắt (bệnh đục nhân mắt do bệnh tiểu đường gây nên), mù lòa (bệnh võng mạc do bệnh tiểu đường gây nên), và thêm nhiều biến chứng khác.
Bệnh viêm khớp không phải chỉ là một chứng bệnh, nhưng khả dĩ là một số nguyên nhân. Từ “arthritis” phát xuất từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “khớp nối” và thật sự có nghĩa là viêm nhiễm khớp nối. Viêm khớp gia tăng việc sản xuất ra các gốc tự do.
Như được nhấn mạnh thường xuyên trong cuốn sách này, những chứng bệnh này và nhiều chứng bệnh thoái hóa khác hoặc là bị gây nên bởi hoặc là có liên quan đến các gốc tự do trong việc chữa trị chúng. Đây là lúc sự bảo vệ chống ô-xýt hoá mạnh mẽ được cần đến – bệnh viêm khớp và tiểu đường cần nhiều sự bảo vệ chống ô-xýt hóa hơn là các người mạnh khỏe. Các OPC chứa các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa mạnh mẽ nhất được biết vào thời điểm này. Chương này sẽ thảo luận các thức các OPC có thể cải thiện không những bệnh tiểu đường và viêm khớp, nhưng cũng còn cho bệnh hen suyễn, chức năng tình dục, chức năng nhớ, và nhiều tình hình khác không phải các đe dọa cuộc sống có thể ảnh hưởng mạnh cho cuộc sống tính từng ngày đối với những ai đang mắc bệnh.

Các OPC và Bệnh Tiểu đường
Đây là lý lẽ mạnh mẽ của tôi và của những chuyên gia sức khỏe khác rằng là các bệnh tiểu đường và tiền-bệnh tiểu đường nên xem xét việc bổ sung OPC! Vào năm 2004, hai nghiên cứu được công bố về Pycnogenol® và bệnh tiểu đường loại 2 chứng minh rằng hiệu ứng của chất chống ô-xýt hóa trong việc hạ thấp mức độ đường huyết (glucose). Nghiên cứu trước đây xác định rằng sự bổ sung có thể giúp quản lý bệnh màng lưới gây nên bởi bệnh tiểu đường. Theo một nghiên cứu lâm sàng được thực hiện dưới sự lảnh đạo của TS. Liu và được công bố trong Diabetes Care, các nhà khoa học khám phá rằng các bệnh nhân tiểu đường loại 2 có lượng đường huyết thấp và các mạch máu khỏe mạnh hơn sau khi được bổ sung Pycnogenol (Liu, 2004).
Nghiên cứu có tính cách mở rộng, kiểm soát đối chứng dùng thuốc trấn an, xác định liều lượng chứng minh rằng các bệnh với bệnh tiểu đường loại 2 nhẹ, đăng ký theo chế độ bình thường và chương trình tập thể dục có thể hạ mức độ đường huyết của họ một cách đáng kể khi được bổ sung với Pynogenol. Liều lượng thấp với 50mg hạ thấp mức độ đáng kể và 100mg hạ thêm mức độ đường huyết, trong khi với liều lượng cao hơn chỉ gia tăng hiệu ứng rất ít ỏi.
Một nghiên cứu lâm sàng thứ hai được công bố vào năm 2004 cho thấy rằng bệnh nhân bệnh tiểu đường loại 2 nếu tiếp tục dùng thuốc trị liệu chống bệnh tiểu đường sẽ hạ thấp mức độ đường huyết và gia tăng chức năng tim mạch sau khi bổ sung với Pynogenol. Nghiên cứu có tính cách loại trừ sai lầm và kiểm soát đối chứng dùng thuốc trấn an được công bố tháng 10 năm 2004 phát hành trên Life Science, nhận thấy bảy mươi bảy bệnh nhân bị bệnh tiểu đường loại 2 được bổ sung 100mg Pycnogenol trong mười hai tuần lễ, trong suốt thời gian đó các việc trị liệu tiêu chuẩn vẫn được tiếp tục, mức độ đường huyết hạ thấp đáng kể so sánh với mức độ của nhóm kiểm soát đối chiếu. (Liu, 2004).
“Đối với mười bảy triệu người Mỹ đang sống ngày qua ngày với bệnh tiểu đường loại 2, tin này là một dấu hiệu chào mừng của chất bổ sung thay thế, tự nhiên, có hiệu ứng và an toàn, các chọn lựa sẳn có cho họ như Pynogenol,” TS. Peter Rohdewald thuộc Institute of Pharmaceutical Chemistry, University of Muenster, và là một trong các tác giả của nghiên cứu, đã phát biểu.
Thêm nữa là các nghiên cứu có liên quan về các ích lợi của Pycnogenol về bệnh tiểu đường được công bố trên Chinese Pharmacological Bullentin (Zhang, 2003)và trên Journal of Biochemical and Molecular Toxicology (Maritim, 2003; Berryman, 2004).
Pycnogenol cũng trì hoãn sự hấp thu đường. Một nghiên cứu được công bố trong Journal of Diabetes Research and Clinical Practice báo cáo rằng Pycnogenol trì hoãn sự hấp thu đường từ một bữa ăn mạnh hơn bất kỳ thuốc trị liệu được kê toa nào, ngăn ngừa lượng đường điển hình lên cao đến đỉnh sau mỗi bữa ăn. Nghiên cứu phát hiện rằng vỏ cây thông có nhiều tiềm năng hơn trong việc ngăn chặn việc hấp thu carbohydrate trong bệnh tiểu đường hơn toa thuốc tổng hợp các nhân tố kềm chế alpha-glucosidase.
TS. Petra Högger, nhà hướng dẫn nghiên cứu này phát biểu, “Bệnh tiểu đường mellitus loại 2 là một bệnh nguy hiểm với sự lan khắp nơi tăng lên,” “Nghiên cứu này chủ yếu dành cho những ai mắc bệnh này bởi vì nó xác nhận rằng Pycnogenol hiệu quả hơn các loại thuốc được kê toa Precose và hỗ trợ rất nhiều nghiên cứ khác được thực hiện trên Pycnogenol và các bệnh tiểu đường.”
Nghiên cứu được thực hiện tại University of Würzburg ở Đức. TS. Högger đã điều tra phản ứng của Pycnogenol với alpha-glucosidase, một enzim đường ruột có liên quan đến việc tiêu hóa phức hợp carbohydrate chẳng hạn như tinh bột và đường bình thường trong bữa ăn. Alpha-glucosidase bẻ gãy các carbohydrate trong thức ăn thành các phân tử glucose, sau đó hấp thu vào dòng máu. Các kết quả phát hiện ra rằng Pycnogenol thì có hiệu lực 190 lần trong việc kềm chế alpha-glucosidase hơn là chất tổng hợp kềm chế Precose trên alpha-glucosidase, một toa thuốc thông dụng cho việc chữa trị bệnh tiểu đường loại 2 (được bán ở Châu Âu dưới cái tên Glucobay).
“Nồng độ cao các procyanidin (flavonoid) được tìm thấy trong Pycnogenol chịu trách nhiệm trong việc chứng minh những kết quả xuất sắc này,” TS. Högger đã phát biểu. Theo TS. Högger, các phân tử procyanidin lớn được nhận thấy rất tích cực trong việc kềm chế hoạt động của alpha-glucosidase, như thế chứng minh các kết quả đáng chú ý. “Các carbohydrate đi vào dòng máu bền vững trong những thời gian kéo dài, khiến các bữa ăn cách khoảng nhau lâu hơn và kéo dài sự no” (Diabetes Research and Clinical Practice, 2007).
Pycnogenol quan trọng đối với bệnh tiểu đường bởi vì nó giảm thiểu bệnh vi mạch máu gây ra do bệnh tiểu đường. Bệnh vi mạch máu gây ra do bệnh tiểu đường chịu trách nhiệm đối với các triệu chứng chính về sức khỏe trong bệnh tiểu đường, chẳng hạn như lở loét, thận hư, bệnh màng lưới. Là mệnh lệnh đối với các bệnh nhân bệnh tiểu đường, họ cần nhận được các chữa trị tốt nhất để quản lý tình hình này.
Đối với các bệnh nhân bệnh tiểu đường đang gặp nguy cơ với các lở loét ở chân có thể dẫn đến việc cắt chi, Pycnogenol được chứng tỏ là giảm thiểu các lở loét ở chân ở các bệnh nhân đang chịu các lở loét ở chân gây nên bởi bệnh tiểu đường. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 7 năm 2006 trong Clinical and Applied Thrombosis/Hemostasis cho thấy rằng các bệnh nhân được chữa trị với Pycnogenol qua đường miệng và thuốc đắp thể hiện 74,4 phần trăm sự giảm xuống về kích cỡ lở loét trong sáu tuần lễ (Belcaro, 2006).
Nghiên cứu chọn ngẫu nhiên ba mươi bệnh nhân bệnh tiểu đường ở G. D’Annunzio University ở Chieti-Pescara, ở Ý, những người bị bệnh nặng về bệnh mạch máu gây nên lở loét ở chân thành bốn nhóm. Các người tham gia ở nhóm 1 nhận 150mg Pycnogenol qua đường miệng và 100mg qua việc đắp thuốc, là thuốc bột đắp trên khu vực bị lở loét. Các người tham gia ở nhóm 2 chỉ nhận Pycnogenol qua đường miệng, trong khi nhóm 3 chỉ nhận thuốc đắp. Các người tham gia ở nhóm 4 không nhận được sự săn sóc y tế nào ngoài sự săn sóc các vết lở loét như thường lệ, đó là sự rửa sạch bằng nước ấm và chất tẩy uế cục bộ.
Sau sáu tuần lễ điều trị, việc trị lành các vết lở loét đáng kể nhất được nhìn thấy ở các bệnh nhân được dùng việc chữa trị theo đường miệng và cục bộ, giảm xuống 74,4 phần trăm về kích cỡ lở loét ở chân. Các bệnh nhân nhóm 2 chỉ uống Pycnogenol giảm xuống 41,3 phần trăm về kích cỡ lở loét ở chân, và bệnh nhân nhóm 3 chỉ đắp Pycnogenol giảm xuống 33 phần trăm kích cỡ lở loét ở chân. Nhóm 4, nhóm kiểm soát đối chứng chỉ giảm xuống 22 phần trăm do bởi sự tẩy uế mỗi ngày các vết lở loét. Tổng quan là 89 phần trăm các bệnh nhân được chữa trị với cách dùng Pycnogenol qua đường miệng và đắp thuốc hoàn toàn được chữa lành.
Theo TS. Gianni Belcaro, nhà hướng dẫn nghiên cứu, đa số sự cắt chi vì bệnh tiểu đường (thông thường là phần dưới của chân và bàn chân) bắt đầu bằng sự hình các vết lở loét ở da. Tuần hoàn máu suy yếu trong bệnh tiểu đường có thể gây cho mô bị chết và bị đổi màu, có thể dẫn đến sự sinh ra lở loét; vết lở loét hở thiên về sự nhiễm trùng và khó khăn trong việc trị lành.
“Nếu không được chữa trị, sự tổn hại các mạch máu gây ra bởi bệnh tiểu đường sau đó biểu thị trong các vấn đề tuần hoàn tiêu biểu chẳng hạn như cao huyết áp mà 50 phần trăm bệnh nhân bệnh tiểu đường phải chịu,” ông ta đã nói, “Các chứng cứ bền vững cho thấy rằng Pycnogenol giảm thiểu một cách hiệu quả áp huyết cao, tụ hợp tiểu cầu máu, cholesterol LDL, và nâng cao tuần hoàn máu.”
Một nghiên cứu khác được sự hướng dẫn của TS. Belcaro và được công bố vào tháng 9 năm 2006 phát hành trên Agiology cho thấy một sự giảm thiểu đáng kể bệnh về mạch máu gây ra bởi bệnh tiểu đường (DM) trong các bệnh nhân sau khi được bổ sung với Pycnogenol.
“Các bệnh về mạch máu gây ra bởi bệnh tiểu đường không phải là một hiện tượng hiếm có và các ảnh hưởng cơ bản đến mỗi bệnh nhân. Tình hình có thể đưa đến kết quả sự mất đi thị giác trong bệnh màng lưới gây nên bởi bệnh tiểu đường, các vấn đề về thận, và sự hoại tử mô vì chứng thiếu máu cục bộ  gây ra lở loét ở chân có thể dẫn đến cắt chi,” TS. Gianni Belcaro đã phát biểu. “Với DM, các thành của các mạch máu rất nhỏ (các mao mạch) trở nên rất yếu, xuất huyết và xảy ra rò rỉ protein cuối cùng đưa tới sự giảm dòng lưu chuyển máu, đưa tới kết quả là tạo nên các cục nghẽn máu và sưng phù các chi (chứng phù).”
Nghiên cứu đưa ví dụ tiêu biểu về sáu mươi bệnh nhân bệnh tiểu đường phải chịu biến chứng DM khi đang được trị liệu với insulin trong ít nhất ba năm tại G. D’Annunzio University. Ngoài việc chữa trị bằng insulin, các bệnh nhân nhận 150mg Pycnogenol qua đường miệng mỗi ngày trong một tháng. Nhóm kiểm soát đối chứng, 50 phần trăm của mẫu nghiên cứu, nhận thuốc trấn an. Các sự đo lường về lưu chuyển máu được thực hiện bằng cách dùng laser Doppler.
Các sự đo lường được thực hiện khi bệnh nhân nằm và đứng. Sự thích nghi của mao mạch đối với sự gia tăng áp suất từ lúc nằm đến lúc đứng thông thường là sút kém, do bởi sự thiếu khả năng của mạch máu và sự gia tăng áp suất trong các mao mạch đối với các cá nhân đang bị DM.
Các kết quả cho thấy khi bệnh nhân nằm, Pycnogenol cải thiện dòng máu chảy trong các mao mạch vào khoảng 34 phần trăm, so sánh với 4,7 phần trăm trong nhóm dùng thuốc trấn an. Khi dòng máu của bệnh nhân được đo ở vị thế đứng, việc chữa trị với Pycnogenol cải thiện dòng máu chảy trong các mao mạch vào khoảng 68 phần trăm, so sánh với 8 phần trăm trong nhóm dùng thuốc trấn an.      
Sự rò rỉ trong các mao mạch được ghi nhận bằng cách đo mắt cá sưng, triển khai 10 phút sau khi đổi vị thế từ nằm sang đứng. Sau khi trị liệu với Pycnogenol, sự sưng phù giảm đi 17 phần trăm so sánh với 2,6 phần trăm trong nhóm đối chứng.
“Sự cải thiện nhanh chóng các triệu chứng của các vi mạch máu với Pycnogenol chỉ trong bốn tuần lễ là lâm sàng đáng ghi nhận,” phát biểu bởi TS. Belcaro, người đang tham gia phần lớn trong các nghiên cứu trước đây có liên quan đến Pycnogenol và bệnh tiểu đường.
Các nghiên cứu trước đây với hơn 1.000 bệnh nhân bệnh tiểu đường cho thấy Pycnogenol có khả năng hàn các mao mạch bị rò rỉ trong mắt. Khả năng ngừng tiến trình của sự mất đi thị giác trong các bệnh nhân mắc bệnh màng lưới gây ra do bệnh tiểu đường, bệnh về mắt gây ra do bệnh tiểu đường, cuối cùng dẫn tới mù lòa.
Xin hãy nhớ rằng các bệnh tiểu đường là hiểm họa gia tăng bệnh tim và rằng các OPC giúp bảo vệ chống lại bệnh tim như đã được thảo luận trước đây trong Chương 2.

OPC và Chứng Viêm khớp
            Viêm nhiễm được đặc trưng bởi sự sưng phù, đau đớn, nóng cục bộ, và màu đỏ. Nó có thể xảy ra do bởi tính cảm ứng hoặc thương tổn. Chất lỏng bị lưu giữ trong các khoảng trống giữa các tế bào trong mô bị tổn thương. Các chất lỏng này thông thường đến từ sự rò rỉ từ các mao mạch, nhưng nó cũng có thể được sản sinh trực tiếp trong mô từ các phản ứng của các gốc tự do. Các tế bào viêm nhiễm di trú đến các mô không bị viêm nhiễm và cho ra các lượng thặng dư các gốc tự do. OPC chứa Pycnogenol kềm chế sự tích lũy các tế bào bị viêm nhiễm, và giảm đi sự thải ra các chất viêm nhiễm (Bayeta và Lau, 2001). Pycnogenol giúp bình thường hóa tính thấm được của các mao mạch để ngăn ngừa sự rò rỉ chất lỏng gây nên chứng sưng phù. Nó cũng giúp bằng cách trung hòa các gốc tự do xúc tiến việc sưng phù và viêm nhiễm (Blazso và cộng sự, 1994, 1995).
            Việc giảm thiểu các gốc tự do làm dịu đi sự sưng phù liên quan đến sự viêm nhiễm và cải thiện tình trạng viêm khớp. Một loại gốc tự do thông thường và có lẻ là nguy hiểm nhất được gọi là “superoxide = siêu ô-xýt hóa” có liên quan đến viêm nhiễm và viêm khớp. Điều này được chứng minh với sự thật là các mũi chích chất superoxide dismutase, một enzim chống ô-xýt hóa chấm dứt gốc tự do siêu ô-xýt hóa,  giảm đi sự sưng phù và viêm nhiễm. Các thí nghiệm bởi một số nhà điều tra chứng tỏ rằng Pycnogenol cũng chấm dứt các gốc tự do siêu ô-xýt hóa (Packer và cộng sự, 1999).
            Nhà nghiên cứu hướng dẫn của một nghiên cứu gần đây về hiệu ứng có lợi của Pycnogenol, TS. Petra Högger của University of Würzburg ở Đức ghi nhận rằng, “Viêm nhiễm là lưỡi gươm hai lưỡi đối với sức khỏe của chúng ta. Viêm nhiễm có lợi  là cần thiết cho việc chống lại sự lây bệnh và làm lành vết thương. Viêm nhiễm có hại, chẳng hạn như nó được kích thích bởi một sự kiện không lây nhiễm, nhằm vào một mô của cơ thể một cách sai lầm, gây nên tổn hại đáng kể. Các bệnh nhân được bổ sung với chiết xuất vỏ cây thông Pycnogenol hưởng lợi từ một hệ thống miễn dịch đáp ứng suy giảm viêm nhiễm quá mức.”
            TS. Högger phát biểu, “Một thí dụ điển hình về viêm nhiễm có hại đó là đó là cơn tấn công của hen suyễn,” “Các tế bào miễn dịch trong các phế quản nhận biết các vật chất vô hại là ngoại lai, gây nên một đáp ứng viêm nhiễm. Sự viêm nhiễm không có chất liệu bị lây nhiễm để tấn công cho nên nó xoay ra tấn công mô, gây nên sưng phù ở các phế quản và làm suy yếu rất nhiều đến sự hô hấp. Pycnogenol được chứng tỏ là hiệu quả trong việc ngăn ngừa loại viêm nhiễm xấu này”.  
            Nghiên cứu của TS. Högger cho thấy uống 200mg Pynogenol mỗi ngày hạ thấp hoạt động đáp ứng của nhân tố hạt nhân kappa B (NF-kB), tế bào miễn nhiễm “phát khởi” việc viêm nhiễm, trong nhóm bảy người tình nguyện khỏe mạnh.
Các mẫu máu được lấy trước khi khởi sự nghiên cứu và tiếp theo đó là năm ngày sau khi dùng chất bổ sung. Các tế bào miễn dịch chính trong huyết tương, cũng được biết là “monocyte”, được rút sau khi bổ sung Pycnogenol cho thấy sự hạ thấp đáng kể đáp ứng của NF-kB vào khoảng 15 phần trăm so sánh với những ai không dùng chất bổ sung Pycnogenol.
Nghiên cứu này chứng tỏ khả năng kềm chế NF-kB của Pycnogenol và các phân tử viêm nhiễm chuyên nghiệp dưới sự kiểm soát của nó. Việc này giảm đi các tỉ lệ mắc bệnh “thân thiện nóng bỏng” khi hệ thống miễn nhiễm của cơ thể bị viêm nhiễm trên mô,” TS. Högger đã phát biểu.
NF-kB được kích hoạt bởi bất kỳ tỉ lệ mắc bệnh nào trong cơ thể và chứng tỏ rằng mô có thể trở nên có hại, chẳng hạn những tế bào miễn dịch nhận biết các vật chất lạ. Nf-kB kích hoạt sản xuất các phân tử viêm nhiễm chuyên nghiệp theo yêu cầu để triệu tập các tế bào miễn nhiễm từ dòng máu đến với mô bị ảnh hưởng.
Những tế bào miễn nhiễm sau đó di chuyển qua các thành mạch máu vào trong mô, nơi mà chúng thải ra các số lượng các enzim hủy diệt và các độc tố chính. Các enzim khác nhau sau đó phân hủy các bó sợi kết nối chẳng hạn như collagen và elastin cho phép các tế bào miễn dịch vận động tự do và tiếp theo tạo điều kiện để chữa trị mô.
Trong các nghiên cứu tách biệt được công bố vào năm 2004 và 2006, Pycnogenol chứng minh các hiệu ứng chống viêm nhiễm của nó trong các thử nghiệm lâm sàng về viêm khớp xương mãn tính, suyễn, và sự đau bụng máu (vọp bẻ trong kinh nguyệt).
Các kết quả của nghiên cứu năm 2006, được hướng dẫn bởi TS. Högger, cho thấy rằng Pynogenol giảm thiểu viêm nhiễm liên quan đến các  triệu chứng của bệnh viêm khớp xương mãn tính (OA). Nghiên cứu về các bệnh nhân OA các người được bổ sung với Pycnogenol được báo cáo giảm thiểu đau đớn và sự tê cứng và gia tăng chức năng cơ thể đáng kể.        
            TS. Högger cũng khám phá cách thức Pycnogenol giảm thiểu đau đớn liên quan với các điều kiện viêm nhiểm như viêm khớp. Nghiên cứu năm 2006 này được công bố trong Biomedicine & Pharmacotherapy chứng minh các thuộc tính giảm đau tự nhiên của Pycnogenol bằng sự kềm chế cyclooxygenase (COX). Các bệnh nhân được bổ sung với Pycnogenol chứng minh sự giảm đau đớn và viêm nhiễm bằng cách hạ thấp hoạt động cyclooxygenase, cũng được biết đến là COX-1 và COX-2. Các enzim COX sản sinh các chất giống như hormone được gọi là các prostaglandin là quan trọng đối với chức năng đúng đắn của nhiều tiến trình sinh lý học trong cơ thể. Chúng cũng còn liên quan đến nhiều tiến trình bệnh lý chịu trách nhiệm về viêm nhiễm và đau đớn. Nghiên cứu lâm sàng điều tra về các hiệu ứng kềm chế của Pynogenol liên quan đến việc giảm đau trong các điều kiện viêm nhiễm chẳng hạn như viêm khớp.
            Hai nhóm bệnh nhân được bổ sung bằng Pynogenol sau khi khởi sự lấy mẫu máu cơ bản. Nhóm bệnh nhân thứ nhất được bổ sung với Pycnogenol trong năm ngày liên tiếp nhau khi một mẫu máu khác được lấy. Các mẫu máu của các bệnh nhân tiết lộ hiệu ứng kềm chế trực tiếp lên hoạt động của cyclooxygenase. Một nhóm bệnh nhân khác chỉ được bổ sung một liều lượng duy nhất của Pynogenol để xác định hiệu ứng kềm chế nhanh như thế nào đối với các enzim COX đã được đo lường. Chỉ sau ba mươi phút sau khi Pycnogenol được ăn vào bụng, các mẫu máu chứng tỏ sự gia tăng đáng kể được trình bày bằng thống kê trong sự kềm chế cả COX-1 và COX-2. TS. Petra Högger phát biểu rằng các tìm ra cho thấy rằng sự bổ sung Pycnogenol kềm chế các enzim liên quan đến sự phát triển đau đớn liên quan đến các rối loạn sự viêm nhiễm chẳng hạn như viêm khớp, hen suyễn, và sự đau bụng trong kinh nguyệt.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét