Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

TK: Chất chống Oxy hóa (TT)


CHƯƠNG 2
BẢO VỆ TRÁI TIM VÀ TUẦN HOÀN MÁU

            Có một số hình thức bệnh về tim và một số nguyên nhân gây nên. Tuy nhiên, hầu hết mọi người nghĩ cơn đau tim là kết quả cuối cùng của bệnh tim, và cholesterol liên hệ là nguyên nhân duy nhất. Chương này sẽ nghiên cứu các nguyên nhân của bệnh tim và các rối loạn tuần hoàn khác và thảo luận về các lợi ích của OPC đối với tim mạch.

Các nghiên cứu trước đây về bệnh tim với các chất chống ô-xýt hóa
Nghiên cứu sớm nhất cho thấy các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa giảm thiểu sự cố về bệnh tim mạch xuất phát từ các nghiên cứu dịch tễ học tôi dã thực hiện giữa thập niện 1970. Các kết quả của nghiên cứu cho thấy sự thâm nhập lâu dài của sinh tố E tương quan với các giảm thiểu đáng kể sự cố về bệnh tim mạch lần đầu xuất hiện trong lần phát hành vào năm 1976 của tạp chí Prevention và và năm sau sách của tôi Supernutrition for Healthy Hearts (Dial Press, 1977) được xuất bản. Các sự việc được tìm ra bộc lộ rằng số lượng điều độ của chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa có thể giảm thiểu sự cố bệnh tim gần 40 phần trăm trong một số nhóm tuổi khi dùng trên mười năm.
            Nghiên cứu về 17.894 người giữa các độ tuổi năm mươi và chín mươi tám cho thấy sự giảm xuống đột ngột về bệnh tim với những ai dùng sinh tố E trong thời gian dài, trung bình là 40 phần trăm. Tôi nhận thấy rằng thời gian dùng sinh tố E quan trong hơn là số lượng. Khuynh hướng này hiển nhiên đặc biệt là dùng trên chín năm. Nhóm dùng 400 IU (đơn vị quốc tế) hoặc nhiều hơn sinh tố E mỗi ngày trong 10 năm hay nhiều hơn mười năm liên kết mạnh mẽ với việc giảm thiểu bệnh tim trước tám mươi tuổi giảm được 10 phần trăm so với tỉ lệ thông thường.
            Trong số 2.508 người dùng sinh tố E trên mười năm, chỉ có bốn người bị bệnh tim. Thông thường trong mẫu của kích cỡ đó, vào khoảng 836 người có triển vọng mắc bệnh tim. Các mẫu thống kê chính xác tiết lộ rằng có thể tin tưởng nhiều về tuyên bố rằng dùng 400 IU sinh tố E mỗi ngày trên mười năm sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tim đến 10 phần trăm so với tỉ lệ điều chỉnh hiện hành (1975) từ 32 phần trăm xuống còn 3 phần trăm.
            Quan sát thời gian dùng sinh tố E liên kết mạnh mẽ với việc giảm thiểu bệnh tim là mạnh mẽ và cực kỳ đáng kể. Tổ chức thống kê Spearman-Rho là 0,96 trong khi 1,00 là tổ chức hoàn hảo. Sự tương quan thì khác biệt đáng kể từ số không hoặc xác suất xuất hiện với mức độ 0,01).
            Trong nhận thức muộn màng, lý do giờ đây có vẻ hiển nhiên. Với bất kỳ độ tuổi nào được đưa ra, điều này có nghĩa là thời gian dùng sinh tố E lâu hơn, các động mạch sẽ được bảo vệ lâu hơn tránh khỏi cholesterol lipoprotein độ đậm đặc thấp bị ô-xýt hóa (LDL). Việc bảo vệ được khởi sự sớm hơn và các động mạch sạch hơn.
            Vào năm 1993, hai nghiên cứu dịch tễ học do các nhà nghiên cứu của Harvard University xác nhận các kết quả tìm ra của tôi. TS. Meir Stampfer và đồng nghiệp xuất bản một nghiên cứu dịch tễ học điều tra trong tám năm về 87.245 y tá và báo cáo rằng phụ nữ dùng hơn 100 IU sinh tố E mỗi ngày trong hơn hai năm có 46 phần trăm thấp hơn về nguy cơ mắc bệnh tim. Cũng vậy, TS. Eric Rimm và đồng nghiệp ở Harvard của ông ta đã xuất bản một nghiên cứu dịch tễ học điều tra trong năm năm về 51.529 các chuyên gia sức khỏe nam và báo cáo rằng nam giới dùng hơn 100 IU sinh tố E mỗi ngày trong hơn hai năm có 37 phần trăm thấp hơn về nguy cơ mắc bệnh tim. Lại nữa, ta nên ghi nhận rằng thời gian dùng sinh tố cần thiết phải ít nhất là hai năm mới có thể quan sát được sự sụt giảm đáng kể về bệnh tim.
            Sinh tố E hoạt động như một chất chống ô-xýt hóa để bảo vệ các động mạch, các protein vận chuyển cholesterol, và các tiểu máu. Tôi sẽ giải thích các chức năng  sau, nhưng bây giờ tôi muốn chỉ ra rằng OPC thì mạnh hơn sinh tố E trong việc thực hiện các chức năng này và theo ý kiến của tôi là OPC hiệu dụng hơn sinh tố E riêng lẻ. Vì các bạn có thể nhớ lại Chương 1, sinh tố E chỉ là chất chống ô-xýt hóa phenolic đơn trong khi OPC là chất chống ô-xýt hóa phenolic đa. Số lượng lớn lao các nhóm phenolic trong OPC là một lý do cho khả năng trung hòa một phạm vi rộng các gốc tự do của chúng. Cũng là ý kiến của tôi phương thức bảo vệ tốt nhất là một tổng hợp hợp lực của OPC, sinh tố E và sinh tố C.
Cách thức các Gốc Tự do gây nên Bệnh Tim
Con đường dẫn đến cơn đau tim theo hai bước. Atherosclerosis (xơ vữa động mạch) là thuật ngữ y khoa cho sự hẹp lại các động mạch không phải tự thân nó gây nên các cơn đau tim. Thrombosis (cục nghẽn trong máu) và vasoconstriction (sự co lại và/hoặc là co cứng của một động mạch) là những sự kiện thường thường gây nên một cơn đau tim.
            Trước tiên “foam cells = các tế bào bọt” (các bạch huyết cầu bị bao phủ bởi ‘LDL ô-xýt hóa = lipoprotein độ đậm đặc thấp bị ô-xýt hóa’) bám chặt vào vách của động mạch. Những tế bào này gây nên sự thẩm thấu nhiều chất liệu qua thành động mạch vào lớp chính giữa của động mạch. Giờ đây ta có thể nói rằng động mạch “đã mắc bệnh” vì một mảng bám đã được hình thành bệnh trong động mạch. Khi mảng bám đó dày lên, thành động mạch bị đẩy ra và khoảng trống máu chảy qua bị hẹp lại. Như thế lưu lượng máu vào mô tim bị giảm đi. Động mạch bị hẹp đi cũng gây tổn hại cho các tiểu cầu của máu chảy qua, khiến cho máu bị “dính lại” và thúc đẩy hình thành cục nghẽn tại vị trí của mảng bám.
            Hãy ghi nhận rằng then chốt vấn đề là ở điểm là động mạch bị hẹp lại (các mạch máu dẫn máu từ tim ra) ép các tế bào tiểu cầu máu và gây tổn hại cho chúng. Các tế bào tiểu cầu là các tế bào kết khối lại và thành cục nghẽn trong máu. Nếu các bạn bị vết cắt, chúng làm nghẽn mạch máu và bạn bị xuất huyết đến chết. Nhưng trong các mạch máu, các hợp quần của tiểu cầu gây nên các cục nghẽn ngăn chặn máu lưu thông. Những cục nghẽn này có thể cư trú ở các động mạch bị làm hẹp lại của tim (động mạch vành) hoàn toàn làm nghẽn dòng máu chảy trong động mạch đó. Khi sự việc này xảy ra, các bác sĩ gọi nó là chứng huyết khối động mạch vành – một cục nghẽn máu trong động mạch vành. Như thế, phát biểu là ai đó đang mắc bệnh “động mạch vành”.
            Khi cục nghẽn máu ngắt dòng máu trong động mạch vành, khu vực trái tim được động mạch vành đó nuôi dưỡng thiếu ôxy và chất dinh dưỡng. Kết quả là các tế bào này bị chết, được gọi là bị nhồi máu. Đây là cơn đau tim cổ điển được gọi là nhồi máu cơ tim cấp tính, hay gọi ngắn gọn là AMI.
            Sự co mạch khiến cho lượng máu đến tim bị giảm đi bởi việc đường kinh động mạch bị co lại. Nó thậm chí ngắt hoàn toàn lượng máu trong động mạch.
            Một hình thức thông thường khác của bệnh tim là suy tim, trái tim quá yếu để có thể bơm máu một cách hiệu quả. Thường thường trái tim nở lớn khi nó cố gắng bù lại lượng máu bơm ra bị giảm đi. Angina là cơn đau xảy ra trong tim khi không có đủ lượng máu đến được tất cả các phần của tim trong khi nó hoạt động. Áp huyết cao (hypertension) ảnh hưởng đến các động mạch và đó là nhân tố nguy hiểm trong nhiều hình thức của bệnh tim.
            Trở lại sự xơ vữa động mạch, tiến trình hình thành kết tủa hạn chế (mảng bám) đã có thời được nghĩ rằng rất đơn giản. Các bạn ăn thức ăn giàu cholesterol và nó bám vào các động mạch. Ngày nay người ta biết rằng tiến trình hình thành mảng bám thì quá phức tạp và chỉ liên quan trực tiếp đến cholesterol từ chế độ ẩm thực đối với một thiểu số người. vâng, tiến trình rất là phức tạp, nhưng quan trọng là phải nhớ rằng các gốc tự do có dính líu vào và rằng là các OPC, các chất chống ô-xýt hóa, có chức năng bảo vệ.
            Cholesterol không hòa tan trong máu, cho nên nó được chuyên chở trong các hạt được gọi là “lipoprotein”. Hai lipoprotein quan trọng là lipoprotein đậm đặc thấp (LDL) và lipoprotein đậm đặc cao (HDL). Cholesterol do LDL vận chuyển thường được gọi là “cholesterol xấu” được vận chuyển đến các tế bào từ gan. Cholesterol do HDL vận chuyển thường được gọi là “cholesterol tốt” vì nó được mang đi khỏi các tế bào trở về gan.
            Các kết tủa cholesterol chỉ được hình thành khi LDL bị các chất chống ô-xýt hóa hủy diệt – có nghĩa là bởi các gốc tự do. Lúc đó nó được gọi là LDL bị ô-xýt hóa. LDL bị ô-xýt hóa có thể thấm qua thành động mạch vèb khởi sự một chuỗi sự kiện bẫy các LDL bị ô-xýt hóa chứa cholesterol tích tụ bên trong thành mạch máu. Các tế bào bạch cầu chống lây nhiễm vì thấy rằng có gì đó bị sai, bị hấp dẫn đến hiện trường và phồng lên tạo thành các tế bào với bọt, sau đó  hóa thành thương tổn, thông thường được gọi là cholesterol kết tủa.
            LDL chỉ bị ô-xýt hóa khi số lượng chất chống ô-xýt hóa không đủ để bảo vệ LDL chống lại việc ô-xýt hóa của các gốc tự do. Các nghiên cứu của TS. A. Nelson và đồng nghiệp vào năm 1998 cho thấy rằng các OPC chứa Pycnogenol® trực tiếp bảo vệ LDL (Nelson và cộng sự, 1998). Tuy nhiên, Pycnogenol cũng có thể gián tiếp bảo vệ LDL. Pycnogenol có thể tái chế sinh tố C, tiếp nữa tái chế sinh tố E, vẫn là chất chống ô-xýt hóa chủ yếu LDL.
            Pycnogenol cũng có thể phá hủy các gốc tự do trước khi chúng đến được với LDL và gây nên tổn hại. Khuynh hướng tạo nên LDL bị ô-xýt hóa, và như thế tạo cholesteroal kết tủa (atherosclerosis = xơ vữa động mạch), tùy thuộc và hai nhân tố: lượng của LDL trong máu và sự cân bằng giữa sự hiện diện của chất chống ô-xýt hóa và gốc tự do. Cả hai đều quan trọng nhưng sự cân bằng của chất chống ô-xýt hóa / gốc tự do là quan trọng nhất trong hai nhân tố.
            Cũng quan trọng để nhận biết rằng cái được gọi là cholesterol xấu, LDL, thì không xấu trừ phi nó thiếu chất chống ô-xýt hóa. LDL cần đến để chuyên chở các chất chống ô-xýt hóa hòa tan trong chất béo (như sinh tố E) trong mạch máu, có nghĩa là nó cần thiết cho sức khỏe. Nhưng giống như phần còn lại của cơ chế, cholesterol LDL cũng cần đến các chất chống ô-xýt hóa để khỏe mạnh.
            Hãy nhớ rằng cholesterol tự chúng kết tủa không gây nên cơn đau tim. Chúng là nhân tố chính đóng góp vào việc hình thành cục nghẽn máu gây nên cơn đau tim. Bao lâu mà máu có thể nén qua sự chật hẹp gây ra bởi chất kết tủa cholesterol với khối lượng đủ, trái tim vẫn nhận đủ ôxy và các dưỡng chất duy trì sự sống cho mô tim. Một nhân tố có tính quyết định đó là duy trì “độ trơn trợt” đúng của tế bào của máu và ngăn ngừa cục nghẽn tạo nên ở các động mạch vành. OPC có hiệu ứng ngăn chặn chống sự tụ hội (chống nghẽn) trên các tiểu cầu của máu, và đặc biệt là hiệu ứng chống lại sự tổn hại đối với các tiểu cầu.

OPC duy trì sự thư giản cho tuần hoàn máu và mạch máu                   Các tiểu cầu máu là các tế bào máu nhỏ, hình đĩa, không màu sắc nhỏ hơn các tế bào hồng cầu. Có khoảng 150.000 đến 300.000 tiểu cầu trong một centimét khối máu. Thật là kỳ bí đối với tôi chỉ là các tiểu cầu giống như cái bánh bít qui với sô cô la khi được quan sát qua kính hiển vi điện tử. Ngay cả các hạt protein trên bề mặt tiểu cầu trông giống các mảnh sô cô la.
            Các tiểu cầu đóng vai trò chính yếu trong quá trình đông tụ máu để không bị chảy máu (sự cầm máu). Khi sự chảy máu bắt đầu, mạch máu xiết lại, một protein được gọi là “nhân tố mô” được thải ra, và một protein (chất tạo keo) trong thành mạch máu xuất hiện, một lipoprotein trên bề mặt của tiểu cầu được gọi là “tiểu cầu nhân tố 3” được kích hoạt và phản ứng với các nhân tố máu để xúc tiến việc hình thành việc bít lại bằng tiểu cầu và khởi sự các bước khác trong cơ chế nghẽn máu. Khi tiểu cầu nhân tố 3 được kích hoạt tiểu cầu thay đổi hình dạng và được nói là “được kích hoạt”.
            Tuy nhiên, các tiểu cầu có thể được kích hoạt ngay cả khi không có sự chảy máu, và điều này thì không tốt. Nếu chúng bị kích hoạt, chúng sẽ có khuynh hướng tụ lại hoặc kết khối lại và hình thành cục nghẽn máu không mong muốn có thể làm nghẽn dòng máu di chuyển trong mạch máu, và kết quả là một cơn đau tim hay đột quị. Nếu cục nghẽn máu không mong muốn không di chuyển nó được gọi là cục đông (thrombus) và nếu nó di chuyển trong mạch máu nó là sự nghẽn mạch (embolism).
            Các tiểu cầu có thể bị kích hoạt với khói thuốc lá và stress, cũng như bởi bệnh tiểu đường và một số khiếm khuyết dinh dưỡng nhất định. Khi người ta già đi, tỉ lệ phần trăm lớn hơn đối với tiểu cầu có khuynh hướng bị kích hoạt.
            Stress tạo nên các sự kích hoạt không mong muốn tương tự mà hút thuốc, bệnh tiểu đường và một số khiếm khuyết dinh dưỡng tạo nên. Khi chúng ta bị stress, adrenaline của chúng ta thật sự tuôn trào. Adrenaline kích hoạt các tiểu cầu máu sẳn sàng kết khối lại và tạo nên cục nghẽn máu. Hơn nữa, adrenaline gây xiết mạch máu lại với hậu quả là áp huyết cao hơn. Các sự thay đổi sinh lý học này là tiện ích trong nhiều năm trước đây khi chúng ta gặp hiểm nguy vì bị động vật hoang dã tấn công. Khi một vết thương xuất hiện, các tiểu cầu máu sẳn sàng nhanh chóng tạo nên cục nghẽn máu và ngăn ngừa hữu hiệu việc mất máu.
            Ngày nay, chúng ta sống với stress thường xuyên – trong công việc và ở nhà. Hình như chúng ta chưa bao giờ có thời gian thư giản. Tình trạng bị stress thường xuyên gây nên việc xiết các mạch máu lại, cũng như liên tục kết dính các tiểu cầu.
            Hậu quả là đường kính của các mạch máu bị giảm thiểu, có ít đi khoảng không cho máu lưu chuyển. Kết màng xơ vữa động mạch có thể giảm thiểu thêm khoảng không cho máu lưu chuyển. Nếu một số tiểu cầu kết dính và tạo nên cục nghẽn, mạch máu có thể hoàn toàn bị nghẽn và các mô chung quanh không còn được cung cấp chất dinh dưỡng và ôxy. Đó là cách thức nhồi máu cơ tim và đột quị triển khai.
            May mắn thay, OPC giúp bảo vệ chúng ta khỏi sự tổn hại với stress. OPC không thể khiến nguyên nhân gây nên stress biến mất. Nhưng Pycnogenol giàu OPC quan trọng có thể cải thiện các mức độ nitric oxide (N2O5) được sản sinh bởi các mạch tế bào của các động mạch và các mạch máu (Fitzpatrick và cộng sự, 1998). Ôxít nitric hướng dẫn các bắp thịt chung quanh các mạch máu và khiến chúng thư giản. Cùng lúc ôxít nitric cũng hướng dẫn các tiểu cầu trở về tình trạng không dính bình thường của chúng, và không còn “bị báo động”. Như thế Pycnogenol  giup1 cơ chế riêng của cơ thể làm mất tác dụng hoạt động của kích thích tố adrenaline stress. Pycnogenol giúp duy trì tính trơn của máu (như là một chất kháng đông) để giảm thiểu các cơn đau tim và đột quị.
            Các nghiên cứu được thực hiện bởi TS. Peter Rohdewald ở Đức và TS. Ronald Watson ở Hoa Kỳ cho thấy rằng Pycnogenol kềm chế hiệu ứng của adrenaline lên các tiểu cầu máu, như thế giảm thiểu khuynh hướng kết khối để hình thành cục nghẽn máu. Khi một người bị stress, lượng lớn adrenaline được thải ra, gây cho các tiểu cầu máu kết khối với nhau. Pycnogenol đặc biệt hiệu dụng chống lại sự gia tăng kết khối các tiểu cầu (tính kết dính và khuynh hướng gia tăng cục nghẽn) bị gây nên bởi hút thuốc (Pütter và cộng sự, 1999).
            Nghiên cứu của TS. Watson được xuất bản trong Cardiovascular Reviews Reports vào năm 1999 với nhan đề “Reduction of Cardiovascular Disease Risk Factors by French Maritime Pycnogenol” (Araghi-Nicknam và cộng sự, 1999). Một bài báo viết chung bởi TS. Watson, Rohdewald và các đồng nghiệp được xuất bản trong Thrombosis Research vào năm 1999 như “inhibition of Smoking-Induced Platelet Aggregation by Aspirin and Pycnogenol” (Pütter và cộng sự, 1999).
            Trong các nghiên cứu lâm sàng, hiệu ứng của liều đơn 100 mg Pycnogenol được quan sát trong hai giờ, và hiệu ứng bảo vệ này kéo dài trong mười hai giờ sau khi ăn vào, và liều lượng 200 mg đã bảo vệ máu lên đến hai hay ba ngày. Khi người hút thuốc dùng 200 mg Pycnogenol mỗi ngày trong sáu mươi ngày, các tiểu cầu máu trở lại hầu như bình thường như người không hút thuốc.
            TS. Watson đã so sánh khuynh hướng tạo thành các cục nghẽn máu trong một nhóm người lớn tuổi (tuổi trung bình là sáu mươi lăm) với một nhóm người trẻ hơn (tuổi trung bình là ba mươi hai). Ông ta cho thấy rằng khuynh hướng tạo cục nghẽn máu ở người lớn tuổi cao hơn đáng kể so với nhóm người trẻ hơn – một sự tìm ra giúp giải thích tỉ lệ mắc phải sự hình thành sự đông máu, nhồi máu cơ tim, và đột quị với sự gia tăng tuổi tác. Sau khi bổ sung hàng ngày với Pycnogenol trên tám tuần, khuynh hướng hình thành cục nghẽn máu trong nhóm người lớn tuổi hầu như bình thường hóa giá trị như của nhóm ba mươi hai tuổi (Araghi-Niknam, 1999). Pycnogenol cải thiện tuần hành máu trong nhóm người lớn tuổi thông qua một cơ chế chống chứng huyết khối và bằng cách gây giãn mạch thông qua việc sản xuất tối ưu ôxit nitric từ màng bên trong (endothelium).
            Hiệu ứng bảo vệ của Pycnogenol đạt được bằng cách hỗ trợ việc sản xuất phân tử ôxit nitric sứ giả riêng của cơ thể (một loại như chất kích thích tố). Như đã được giải thích trước đây, ôxít nitric được sản xuất từ các tế bào hình thành bên trong các mạch máu. Nó hoạt động trên các tiểu cầu máu để “giữ cho chúng yên tĩnh”, ngăn chặn chúng khỏi tình trạng cảnh báo và kết dính không hình thành cục nghẽn máu.
            Pycnogenol làm chậm đi sự hợp quần các tiểu cầu bằng cách kềm chế  hoạt động của các enzim thromxane A2, 5-lipoxygenase, và các hợp chất tạo cục nghẽn khác. Hơn nữa, sự bảo vệ đến mà không gia tăng nguy hiểm xuất huyết kéo dài, hay hiệu ứng phụ thông thường đối với aspirin.
            Ngoài ra, Pycnogenol làm giảm đi mức độ thromboxane A2, cũng là một vasocontrictor (một chất xiết các mạch máu, vì thế làm giảm đi lưu chuyển máu và gia tăng áp huyết) trong những người hút thuốc xuống mức độ bình thường như những người không hút thuốc (Araghi-Niknam và cộng sự, 1999).
            Một điểm quan trọng đó là hiệu ứng lợi ích của Pycnogenol thì khác với hiệu ứng của aspirin lên tiểu cầu máu. Sự khác biệt, mặc dù là kỹ thuật, vẫn quan trọng. OPC hỗ trợ việc sản xuất ôxit nitric riêng của cơ thể, trong khi đó aspirin kiềm chế không khả nghịch enzim cycooxygenase, chất đưa đến các vấn đề xuất huyết không mong đợi.
            Aspirin được kê toa rộng rãi bởi các thầy thuốc bệnh tim mạch để bảo vệ chống các cơn đau tim. các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng dùng đúng liều lượng aspirin có thể giảm thiểu tỉ lệ mắc phải cơn đau tim trong các bệnh nhân đau tim. Những nghiên cứu sau đó cho thấy aspirin cũng có thể giảm thiểu rủi ro bị cơn đau tim đầu tiên.
            Cho đến bây giờ, điều này nghe có vẻ tốt, nhưng chẳng may là nhiều người phát triển các vấn đề nghiêm trọng khi dùng aspirin kéo dài. Họ có thể phát triển loét lớp bọc của bó bao tử - ruột non và khuynh hướng xuất huyết. Một số người được biết là phát triển tình trạng này đột biến và không có cảnh báo trước. Trong khi việc chữa trị bằng aspirin có ích lợi cho nhiều người, các bạn nên kiểm tra trước với bác sĩ của mình trước khi dùng nó trên cơ bản lâu dài.
            Mặt khác, OPC an toàn và không gây gia tăng xuất huyết hoặc hiệu ứng phụ như của aspirin. Trong các nghiên cứu bởi các TS. Rohdewald và Watson, người ta nhận thấy rằng 100 mg Pycnogenol đạt được hiệu ứng mong muốn lên các tiểu cầu máu ở người hút thuốc tương tự với 500 mg của aspirin – và không có xuất huyết kéo dài và các biến chứng phụ khác như của aspirin (Pütter và cộng sự, 1999).
            Tổn hại đối với màng bên trong, hoặc tuyến mạch máu của tim và các động mạch cũng có thể gây nên hình thành các cục nghẽn và cho phép các chất vận chuyển cholesterol xâm nhập thành của động mạch. Các nhà nghiên cứu tại Loma Linda UniversitySouthern California nghiên cứu hiệu ứng bảo vệ của Pycnogenol dùng các tế bào màng bên trong chính. Họ đã tìm ra rằng Pycnogenol giảm thiểu tổn hại đối với các tế bào màng bên trong gây ra bởi các gốc tự do và thông qua các thành phần độc hại khác (Liu và cộng sự, 2000). Họ đã sớm ghi nhận rằng Pycnogenol gia tăng việc sản sinh các chất chống ô-xýt hóa khác trong các tế bào (Wei và cộng sự, 1997).
OPC Hạ Huyết áp xuống
Pycnogenol cũng có hiệu ứng giảm áp huyết (blood pressure-lowering) giúp ngăn ngừa huyết áp cao. Hiệu ứng này là quan trọng., nhưng không thể biến Pycnogenol thành thuốc chống huyết áp cao. Có hai lý do được biết đến cho hành động này. Thứ nhất là cơ chế, nói theo trước đây, liên quan đến việc tối ưu hóa sự sản xuất ô-xýt nitric trong mạch máu. Một số nhà nghiên cứu bao gồm TS. David Fitzpatrik của University of South Florida và TS. Lester Packer của University of California, Berkeley đã thực hiện nghiên cứu về Pycnogenol và ô-xýt nitric, và cách thức mà Pycnogenol cân bằng mức độ ô-xýt nitric trong động mạch để tạo điều kiện cho máu lưu chuyển dễ dàng. Cơ chế thứ hai là những gì tôi sẽ thảo luận liên quan đến khả năng của OPC về kềm chế enzim trong máu xiết và làm hẹp các động mạch.
            Các nhà khoa học quan tâm rất nhiều đến ô-xýt nitric, mặc dù nó đã bị loại bỏ nhiều thập niên vì là hợp chất không quan trọng trong cơ thể - chủ yếu là sản phẩm thải bỏ hoặc là chất ô nhiễm không khí được hít vào. Ô-xýt nitric đã được gọi là “Phân tử của Năm” vào năm 1992 bởi tạp chí chuyên đề danh tiến Science. Vào năm 1998, ba nhà khoa học đã được trao giải thưởng Nobel cho các nghiên cứu của họ về ô-xýt nitric. Giờ đây chúng ta hiểu rằng có những hiệu ứng trong cơ thể ngoài tầm với của chúng ta.                        
            Ô-xýt nitric đóng một vai trò trong các chức năng hóa sinh. Nó cải thiện trí nhớ và sự lưu ý; nó gia tăng khả năng dẫn truyền của thận, phổi, và gan bằng cách cải thiện tuần hoàn máu; nó bảo toàn sự vận hành của hệ thống tim mạch; và nó chịu trách nhiệm về dương cương.
            Trong các thuật ngữ về bệnh tim, người đọc có thể quen thuộc với sự kiện trong suốt quá trình chứng đau thắt ngực (đau ngực)  bệnh nhân sẽ cảm thấy giảm nhẹ nếu uống thuốc nitroglycerin.  Những viên thuốc nitroglycerin thải ra ô-xýt nitric chất tạo thư giản cho các động mạch vành và tạo cho máu chảy về tim nhiều hơn.
            Như được mô tả trước đây, bên trong các mạch máu, hoặc là màng bên trong, của các động mạch sản sinh ra ô-xýt nitric đóng vai trò trong việc điều hòa sự lưu chuyển máu. Ngoài ra, ô-xýt nitric được sản sinh trong động mạch cũng gia tăng việc sản xuất sứ giả hóa học được gọi là “Cyclic-GMP” (guanosine monophosphate) cần thiết giữ cho các tiểu cầu máu được trơn và không thiên về việc họp lại hay tụ lại thành nhóm. Pycnogenol kích thích enzim ô-xýt nitric synthase sản sinh ra ô-xýt nitric bên trong các động mạch từ arginin axít amin.
            Một số ô-xýt nitric luôn luôn là cần thiết, nhưng quá nhiều thì có thể giết chết các tế bào. Pynogenol giúp điều hòa mức độ ô-xýt nitric trong thân thể với mức độ tối ưu nhất. Nó giúp cơ thể sãn sinh ra lượng ô-xýt nitric đủ cho các chức năng cần thiết, trong khi giảm mức độ ô-xýt nitric nơi nó có thể gây hại.
            TS. Fitzpatrik cũng tiến hành những thử nghiệm để xác định hiệu ứng của Pycnogenol theo các phần nhỏ của động mạch chủ, động mạch chính lưu chuyển máu từ tim ra. Ông ta đã nhận thấy rằng nó cải thiện sự sản xuất ô-xýt nitric trong màng bên trong, sau đó nó có hiệu ứng thư giản trên động mạch chủ theo cách thức tùy theo liều lượng. Các kết quả được xuất bản vào năm 1998 trong Journal of Cardiovascular Pharmacology (Fitz-Patrik và cộng sự, 1998).    
            OPC cũng trợ giúp trái tim bằng cách ngăn chặn một trong những hành động của angiotensin I chuyển thành enzim (ACE) trong việc gây nên huyết áp cao. Theo cách này, OPC cũng tương tự, nhưng an toàn hơn các loại thuốc được bào chế bình thường được gọi là các chất kềm chế ACE. ACE can thiệp vào với bradykinine, một hợp chất giúp duy trì ngoại vi của các mạch máu giãn nở đúng. Ngăn chặn hành động này dẫn tới việc bình thường hóa huyết áp mà không gặp nguy hiểm là kéo huyết áp xuống quá thấp. Nó cho phép bradykinine hoạt động như nó nên làm, không gây trở ngại gì bởi ACE.
            TS. Miklos Gabor và đồng nghiệp của ông ta tại Albert Szent-Györgyi Medical University in Szeged, Hungary, cùng với TS. Peter Rohdewald của University of Muenster, Đức nhận thấy rằng OPC quan trọng, Pycnogenol có hành động tùy thuộc vào liều lượng trong việc ngăn chặn ACE khỏi việc tăng áp huyết. Dựa trên nghiên cứu của họ, được xuất bản năm 1996 trong Pharmaceutical and Pharmacological Letters, các nhà nghiên cứu mô tả hiệu ứng giảm huyết áp của Pycnogenol là “ôn hòa” – những ai có huyết áp bình thường hoặc áp huyết thấp sẽ không bị ảnh hưởng – trong khi những người có huyết áp cao do bởi quá nhiều ACE sẽ hưởng lợi.
            Hơn nữa, một nghiên cứu lâm sàng được xuất bản bởi TS. Ronald Watson, giáo sư ở Department of Nutritional Sciences ở University of Arizona, vào năm 2001 xét nghiệm khả năng này. TS. Watson và nghiên cứu của các đồng nghiệp của ông ta là nghiên cứu ngẫu nhiên, có tính cách loại trừ những sai lầm từ phía người làm thí nghiệm và nhóm được thí nghiệm, kiểm tra thuốc trấn an, triển vọng, tạp giao trong mười sáu tuần lễ để  xác định vai trò của Pycnogenol trong việc điều chỉnh huyết áp trong các bệnh nhân có huyết áp tăng ôn hòa.
            Họ tìm thấy một sự giảm thiểu đáng kể trong huyết áp tâm thu trong khi bổ sung Pycnogenol. (Áp suất tâm thu miêu tả áp suất trong các động mạch khi trái tim co rút lại và bơm máu vào các động mạch). Cũng nữa, huyết thanh thromboxane đậm đặc được giảm đáng kể trong khi bổ sung Pycnogenol (Araghi-Niknam và cộng sự, 1999). Các nhà khoa học kết luận, “Các dữ liệu của chúng tôi cho thấy rằng sự bổ sung Pycnogenol là có hiệu quả trong việc giảm thiểu huyết áp tâm thu trong các bệnh nhân huyết áp cao.”
            Vào năm 2004, các nhà nghiên cứu do TS. X. Liu hướng dẫn, xác nhận rằng Pycnogenol cải thiện chức năng màng bên trong của các bệnh nhân huyết áp cao và cho phép những ai dùng thuốc chống huyết áp cao giảm thiểu liều lượng của họ (Life Science, 2004).

OPC Bảo vệ chống lại các Hiệu ứng phụ có hại về Huyết áp cao
Pycnogenol cũng có giá trị đối với ai đã đang được trị liệu về huyết áp cao. Một nghiên cứu được xuất bản vào năm 2006 phát hành trên Journal of Clinical and Applied Thrombosis/Hemostasis cho thấy Pycnogenol giảm thiểu bệnh phù, một biến chứng phụ tiêu biểu của thuốc chống huyết áp cao, vào khoảng 36 phần trăm trong các bệnh nhân dùng các dược phẩm này.
            Theo TS. Gianni Belcaro nhà nghiên cứu hướng dẫn của một nghiên cứu, hơn 35 phần trăm bệnh nhân dùng thuốc chống huyết áp cao được tin rằng phải chịu đựng bệnh phù như biến chứng phụ. Điều này xảy ra bởi vì thuốc chống huyết áp cao gây cho các mạch máu giãn ra, cho phép máu lưu chuyển dễ dàng hơn và như thế hạ huyết áp. Tuy nhiên, là một biến chứng phụ, việc này gây nên cho máu tụ lại trong các mạch máu của phần dưới của chân. Kết quả là chúng lan ra và chất lỏng thấm vào mô gây nên sự sưng phồng (phù). Huyết áp cao là nhân tố nguy hiểm trầm trọng đối với việc triển khai mắc bệnh tim mạch trầm trọng lúc nào đó trong tương lai và như thế điều cần thiết cho chữa trị là xác nhận chứng phù là một biến chứng phụ.                
            Thuốc chống huyết áp cao giảm đi áp suất bằng cách kềm chế sự xiết các mạch máu lại. TS. Belcaro phát biểu “Đường kính mạch máu càng lớn máu sẽ lưu chuyển dễ dàng hơn với áp suất thấp hơn,” “Để có thể tránh máu đọng lại ở phần dưới chân và bàn chân (chứng phù), đường kính của mạch máu phải điều chỉnh khi một người thay đổi tư thế đang nằm sang tư thế đứng lên. Các kết quả của nghiên cứu này cho thấy Pycnogenol cải thiện tuần hoàn máu, tránh sự đọng máu lại, và giảm thiểu chứng phù.”
            Nghiên cứu mẫu về năm mươi ba bệnh nhân huyết áp cao ở G. D’Annunzio University ở Ý. Tất cả các bệnh nhân chịu đựng chứng phù ở mắt cá chân và bàn chân là kết quả dùng thuốc trị liệu huyết áp cao, và đang dùng thuốc cùng một liều lượng giống nhau trong thời gian ít nhất là bốn tháng. Hai mươi ba bệnh nhân đang được điều trị với chất kềm chế ACE (nhãn hiệu là Mavik, Altec) và ba mươi bệnh nhân đang được điều trị khóa kênh canxi nifedipine (nhãn hiệu Adalat, Procardia).
            Trong nghiên cứu tám tuần lễ, hai mươi bảy bệnh nhân được dùng 150 mg Pycnogenol mỗi ngày đối chứng với hai mươi sáu bệnh nhân còn lại dùng cùng liều lượng với giả dược (thuốc mất hoạt tính).
            Các mạch máu gây nên chứng phù của phần dưới chân được đ với dụng cụ đo biến dạng plethysmography (một dụng cụ thông thường dùng xác định và ghi nhận các biến số trong kích cỡ của một cơ quan hoặc chi, trong trường hợp này là phần dưới của chân). Các bệnh nhân trước tiên được đo theo tư thế nằm ngữa vau đó là tư thế đứng.
            Sau tám tuần lễ, trị liệu với Pycnogenol, các bệnh nhân dùng các nhân tố kềm chế ACE nhận được sự giảm xuống 35 phần trăm phù mắt cá trong khi các bệnh nhân với nifedipine giảm xuống 36 phần trăm. Theo TS. Belcaro, Pycngây nên suy tim. Nghiên cứu này cho thấy rằng Pycnogenol ogenol giúp chống lại biến chứng chủ yếu của thuốc chống huyết áp cao.
            Một nghiên cứu tiếp theo xác nhận rằng Pycnogenol bảo vệ trái tim chống lại các hiệu ứng của áp huyết cao. Nghiên cứu được xuất bản trong ấn bản năm 2007 trên báo chuyên đề về Cardiovascular Toxicology, chỉ ra rằng Pycnogenol giúp ngăn ngừa các nguy hại mà áp huyết cao gây nên cho trái tim. Nghiên cứu chứng minh rằng Pycnogenol có thể làm mất tác dụng của sự “mệt mỏi” của trái tim, có thể trợ giúp cho năm triệu người Mỹ sống với bệnh suy tim.
            Trong áp huyết cao, tim phải làm việc quá mức dần dần trở nên mệt mỏi đưa đến kết quả là làm yếu đi các bắp thịt của tim và một hay nhiều ngăn tim trương nở. Quá trình này (được biết là sửa đổi tim) gây thêm khó khăn cho trái tim trong việc bơm cung cấp đủ máu có chứa ô-xy đáp ứng nhu cầu cho cơ thể, và có thể cuối cùng gây nên suy tim. Nghiên cứu này cho thấy rằng Pycnogenol ngăn ngừa cho tim khỏi mệt mỏi trong chứng huyết áp cao. Các thành của ngăn tim cho thấy tỉ lệ cao hơn đáng kể tỉ lệ các mô liên kết tạo keo hơn là của các nhóm kiểm soát đối chứng.
            Các cách chữa trị thay thế chẳng hạn như với Pycnogenol là các thành phần quyết định trong việc chống lại bệnh tim,” Theo tuyên bố của TS. Watson, nhà hướng dẫn nghiên cứu trong nghiên cứu kế tục. “Hiệu ứng của chất bổ sung Pycnogenol là tùy chọng tuyệt vời cho nhiều người muốn có sự thay thế về dược phẩm trị liệu như chất ngăn chặn beta hoặc chất kềm chế ACE. Nghiên cứu mới này cho thấy Pycnogenol hạn chế việc tiến trình thoái hóa  trong các bệnh nhân thiên về sung huyết suy tim, chẳng hạn như ở người lớn tuổi.”
            Nghiên cứu được thực hiện ở University of Arizona, Tucson. Các con chuột cái lớn tuổi (mười tám tháng tuổi) được chia ra ngẫu nhiên thành bốn nhóm: nhóm chuột đối chứng, nhóm chuột chỉ nhận Pycnogenol, nhóm chỉ nhận L-NAME (NG-nitro-Larginine methyl ester, một chất gây nên nghẹt động mạch và tăng huyết áp) và nhóm chuột nhận cả Pycnogenol và L-NAME được cung cấp trong vòi nước và nghiên cứu được sự xét duyệt cho phép bởi Animal Review Committee ở University of Arizona.
            Một nhóm chuột bị huyết áp cao bởi L-NAME nhận        Pycnogenol trong nước uống trong bốn tuần lễ và một nhóm khác bị cao huyết áp khi chỉ nhận L-NAME. Sau năm tuần lễ, tim của nhóm kiểm soát sau đã có sự gia tăng kích cỡ đáng kể vì kết quả của cao huyết áp. Trong nhóm chữa trị với Pycnogenol, huyết áp cao và các tham số chức năng tương tự như những gì được tìm thấy trong nhóm chuột khỏe mạnh với huyết áp khỏe mạnh.   
            TS. Watson nói rằng, “Nghiên cứu này cung cấp chứng cứ rằng quản lý đường miệng của Pycnogenol đảo chiều sửa đổi tim cảm ứng bởi L-NAME bằng cách ngăn chặn việc sản sinh ô-xýt nitric dẫn đến huyết áp cao, và cuối cùng là bệnh cơ tim [viêm nhiễm cơ tim],”
            Sau khi điều tra chi tiết về mô tim, TS. Watson nhận thấy rằng sự bổ sung Pycnogenol đã nâng cao đáng kể ma trận chất keo liên kết của mô tim. Trong khi tăng huyết áp mãn tính trong các con chuột đưa đến sự tổn thất đáng kể sợi keo liên kết, Pycnogenol gia tăng đáng kể sự hiện hữu chất keo, đưa đến ngăn tim mạnh hơn.
            Theo Hội Tim mạch Hoa Kỳ gần năm triệu người Hoa Kỳ đang sống với bệnh suy tim, và 550.000 ca bệnh mới được chẩn đoán mỗi năm. Tỉ lệ tử vong về suy tim ảnh hưởng đến 80 phần trăm nam giới và 70 phần trăm phụ nữ trong vòng mười hai năm mắc bệnh tim mạch. Theo TS. Watson, việc sửa đổi tim được xem là một mục tiêu chữa trị quan trọng để chiến đấu với bệnh này.


OPC Dập tắt Viêm nhiễm trong Động mạch   
            Chứng cứ cho thấy viêm nhiễm mãn tính từ sự lây nhiễm vi khuẩn thông thường gia tăng đáng kể tỉ lệ mắc phải bệnh tim. Hình như khá lạ lùng nhận thấy rằng sự lây nhiễm thông thường, chẳng hạn như bệnh gôm, lây nhiễm xoang, viêm tắc phế quản, viêm nhiễm đường niệu, và viêm loét bao tử được liên kết với bệnh tim, nhưng sự viêm nhiễm cũng kích hoạt tế bào bạch cầu chống lây nhiễm, dùng gốc tự do tiêu diệt vi khuẩn và các “vật” lạ trong máu. Những tế bào bạch cầu này di trú trong các động mạch nơi mà một số gốc tự do rò rỉ khỏi các tế bào, chất ô-xýt hóa LDL và tổn hại lớp bọc các động mạch. Tiến trình cũng nâng một hợp chất C-reactive protein (CRP) trong máu. Các bác sĩ giờ đây đang xem xét việc nâng mức độ CRP như là một nhân tố hiểm họa trong bệnh tim.
            Trong một bài báo năm 2001 trong báo chuyên đề của Hội Tim mạch Hoa Kỳ với nhan đề Circulation, người ta đã báo cáo rằng các lây nhiễm mãn tính có thể nâng lên gấp ba lần hiểm nguy xơ vữa động mạch ở người, ngay cả khi họ không có các nhân tố hiểm nguy cổ điển chẳng hạn như cao huyết áp, béo phì, bệnh tiểu đường, hoặc một cách sống ít hoạt động.
            OPC giúp trong một số cách. Là chất chống Ô-xýt hóa, chúng trung hòa các gốc tự do được thải ra do viêm nhiễm. TS. Benjamin Lau và các đồng nghiệp của ông ta tại California’s Loma Linda University cho thấy rằng OPC trong Pycnogenol giảm thiểu sự sản xuất các phân tử kết dính dạng ô (CAM) của cơ thể các phân tử gây nên các tế bào viêm nhiễm bám vào thành mạch máu (Peng và cộng sự, 2000).
            Tôi sẽ thảo luận sự viêm nhiễm rất chi tiết trong Chương 8 về viêm khớp và hen suyễn.

OPC Giúp Duy trì Tuần hoàn máu tốt         
            OPC giúp duy trì tuần hoàn máu tốt theo một số cách. Tôi đã thảo luận về cách thức OPC cải thiện tuần hoàn máu thông qua hiệu ứng trên ô-xýt nitric. Một cách thức khác đó là OPC bảo vệ các tế bào màng bên trong ngăn cách tim và mạch máu chống lại gốc tự do. Nếu các tế bào này bị tổn hại, cơ thể cố gắng sửa chữa chúng, và điều này có kết quả trong việc gây nên sẹo và thương tổn giảm thiểu lưu chuyển máu.
            OPC cũng liên kết chất keo và các sợi mô đàn hồi, là những protein quan trọng trong mạch máu và da. Trong khi liên kết những protein này, OPC ngăn chặn sự giảm cấp độ bằng các enzim nhất định. OPC cũng tạo điều kiện cho sự sản xuất “chất cơ sở”, một chất kết dính gian bào chất có thể làm đầy các khoảng trống giữa các tế bào trong các mạch máu và kiểm soát lượng chất lỏng và hợp chất có thể trượt đi được. Sự việc này cũng trao cho các mạch máu sức mạnh.
            Một nghiên cứu rất thú vị được thực hiện tại Bắc Kinh, Trung quốc và được xuất bản trong European Bulletin of Drug Research vào năm 1999. Cuộc nghiên cứu do TS. Shiwen Wang của Institute of Geriatric Cardiology tại PLA General Hospital ở Bắc Kinh hướng dẫn (Wang và cộng sự, 1999). Sáu mươi bệnh nhân đau tim được nghiên cứu trong bốn tuần lễ theo tính cách loại trừ những sai lầm từ phía người làm thí nghiệm và nhóm được thí nghiệm, kiểm soát bằng thuốc trấn an, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Vi tuần hoàn máu được đo bằng đường kính của các mao dẫn trong nền nhỏ như ở đầu móng tay. Các bệnh nhân được điều khiển với các resveratrol về tim mạch, bao gồm hoạt động điện bất thường (dùng điện tâm đồ ECG), thiếu máu cơ tim (lưu chuyển máu bị giảm thiểu), và các tiểu cầu máu tụ lại, trong các tham số khác.
            Đối với các bệnh nhân bệnh tim dùng 150 mg OPC có chứa Pycnogenol ba lần một ngày trong bốn tuần lễ, 54 phần trăm đã được cải thiện lưu chuyển máu trong vi mạch máu trên 31 phần trăm đối với bệnh nhân chỉ nhận thuốc trấn an.
            Nghiên cứu này kết luận rằng Pycnogenol kềm chế sự kết dính và tụ hội của các tiểu cầu máu, cải thiện đường kính của các mao mạch và tràn ngập lưu chuyển máu trong các mao mạch, và ngăn ngừa đối với một số mở rộng về chứng thiếu máu cục bộ ở cơ tim đối với các bệnh nhân mắc bệnh về động mạch vành. Không có các biến chứng trầm trọng hoặc nhiễm độc đối với các cơ quan quan trọng. Những sự khám phá này đề nghị rằng Pycnogenol có thể được dùng như một tác nhân bảo vệ sức khỏe có ích giúp ngăn ngừa các tổn hại về tim mạch và sự nghẽn mạch ở động mạch vành.

OPC Đóng góp và Sức khỏe Tổng thể của Tim và bảo trì
            Tôi đã thảo luận về nhiều cách thức trong đó chỉ nhằm vào một phức hợp của OPC, Pycnogenol là bảo vệ chống lại bệnh tim. Vào năm 2003 TS. Watson mà nghiên cứu của ông ta tôi thảo luận trong suốt chương này, đã bình luận về nhiều cách thức mà Pycnogenol bảo vệ chống lại nhiều bệnh tim mạch trong các bài báo khoa học. TS. Watson kết luận rằng chất bổ sung có tiềm năng ngăn chặn các nhân tố hiểm hoạ bệnh tim mạch chính. Bài báo được phát hành trong Evidence-Based Integrative Medicine, cung cấp tổng quan các nghiên cứu lâm sàng mô tả về các lợi ích về sức khỏe của trái tim của Pycnogenol, bao gồm sự giảm thiểu các hoạt động của tiểu cầu, giảm thiểu huyết áp cao, thư giản sự xiết nghẽn động mạch, và cải thiện tuần hoàn máu.
            TS. Watson đã nói “Tôi đã làm việc rất nhiều với Pycnogenol trong thập niên trước, nghiên cứu và thực hiện nghiên cứu về chất chống ô-xýt đầy sức mạnh này. Tôi nhận thấy rằng thật sự là rất hấp dẫn rằng là các nghiên cứu được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau khắp thế giới có những kết quả tương tự như của tôi, ủng hộ quan điểm rằng sự bổ sung chất Pycnogenol – với liều lượng từ 25 mg đến 200 mg [mỗi ngày] – giúp chống lại các nhân tố nguy hiểm về tim mạch và đóng góp tổng thể về sức khỏe và bảo dưỡng cho trái tim,”
            Theo bài báo “Pycnogenol và Sức khỏe Tim mạch” các nhà khoa học Anh quốc đã đưa ra đề nghị rằng bổ sung cho các cá nhân từ năm mươi lăm tuổi trở lên với thuốc tổng hợp theo hình thức thuốc viên riêng lẻ. Quan điểm về “Thuốc đa chất” nguyên gốc này có thể giảm thiểu các nhân tố nguy hiểm về tim mạch, bao gồm hạ thấp tỉ lệ cholesterol (LDL) xấu và  huyết áp, giảm thiểu hoạt động của các tiểu cầu, và cải thiện tuần hoàn.
            TS. Watson bình luận, “Trong khi chúng tôi tìm thấy quan điểm chống lại ‘thuốc đa chất’ này,  điều quan trọng đối với chúng tôi là nhận thức về sức khỏe tổng thể tim mạch được duy trì qua các phưong pháp dinh dưỡng. Cho đến nay, trên mười nghiên cứu lâm sàng được xuất bản về việc Pycnogenol chứng minh được ích lợi đáng kể của nó đối với sức khỏe trái tim và tuần hoàn máu. Đa phần nghiên cứu được thực hiện cung cấp chứng cứ vững vàng rằng chất chống ô-xýt hóa này rất mạnh trong sự giảm thiểu viêm nhiễm trong cơ thể, gia cố hệ thống mạch máu, giảm thiểu áp huyết cao và cholesterol, và chống lại các hiệu ứng của việc hút thuốc, stress, và các nhân tố hiểm nguy môi trường lên tim,”
Xem xét tất cả các thành phần hiệu ứng đồng vận với   Pycnogenol, OPC cung cấp sự bảo vệ bền vững và đáng kể chống lại những hiểm hoạ chính về bệnh tim. Chúng ta hãy nhìn một số nghiên cứu liên quan đến chiết suất hạt nho, một phức hợp của OPC.
       
Chiết suất từ Hạt nho và Sức khỏe Trái Tim
Trong một cuộc điều tra được xuất bản năm 1993 trên Journal of the American College of Cardiology, các TS. D.T. và S.D. Nash của State University of New York Health Science Center ở Syracuse và đồng nghiệp của họ cho thấy trong một nhóm mẫu gồm năm mươi sáu nam và nữ sử dụng 1,5 oz (43 g) dầu hạt nho mỗi ngày – một khối lượng mà một người có thể dùng để nấu nương – chất dầu hạt nho có khả năng tăng mức độ HDL khỏe mạnh lên cho đến 13 phần trăm và giảm mức độ có hại của LDL xuống 7 phần trăm chỉ trong ba tuần lễ. Tỉ số tổng cholesterol/ HDL của các đối tượng giảm xuống 15,6 phần trăm và tỉ số tổng LDL/ HDL giảm 15,3 phần trăm, là đáng kể cho những ai đang chịu hiểm nguy về các cơn đau tim.
            TS. Yamakoshi và đồng nghiệp chứng minh rằng chiết xuất hạt nho ngăn ngừa tạo mảng bám đối với LDL trong phòng thí nghiệm động vật (Atherosclerosis, 1999). Chiết xuất hạt nho hạ thấp mức độ ô-xýt hóa của máu đến 90 phần trăm và như thế ngăn ngừa sự ô-xýt hóa của LDL. Trong nghiên cức, các con thỏ được nuôi với chế độ ăn uống giàu cholesterol có dùng và không dùng chiết xuất hạt nho. Mặc dù không có sự thay đổi về mức độ cholesterol trong các con thỏ, những con nhận thêm chiết xuất hạt nho cho thấy sự giảm đi sự gây tổn hại của cholesteryl ester hydroperoxide và aortic malodialdehyde, hai chất gây tổn hại LDL và có thể dẫn đến chứng xơ vữa động mạch. Các phân tích cho thấy một sự giảm thiểu ở LDL ô-xýt hóa.
            Trong một thí nghiệm khác dùng huyết tương người, chiết xuất hạt nho được thêm vào huyết tương cũng kềm chế sự ô-xýt hóa của LDL, đưa ra ích lợi khả dĩ trong sự ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
    
Rượu Vang đỏ và Sức khỏe Trái Tim
Một số nghiên cứu về dịch tễ học và có kiểm soát đối chứng cho thấy rằng các cá nhân tiêu thụ một hay hai ly rượu vang mỗi ngày có cơ may giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch. Một phức hợp quan trọng thứ ba của OPC và các polyphenol là chiết xuất rượu vang đỏ.
            TS. M. J. Halpern và đồng nghiệp tại Superior Institute for Health Sciences ở Lisbon, Bồ Đào Nha nhận thấy rằng chiết xuất rượu vang đỏ giảm thiểu sự hợp quần lại của các tiểu cầu (Journal of International Medical Research, 1998).
            Vào năm 2000, TS. L. Fremont và đồng nghiệp tại Laboratoire de Nutrition et Sécurité Alimentaire, ở Jouy-en-Josas, Pháp, nhận thấy rằng rượu vang đỏ bảo vệ axít béo polyunstaturated trong huyết tương và màng. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, “trong con người, chiết xuất rượu vang đỏ có ích lợi bằng cách giảm thiểu các hiệu ứng độc hại của chế độ ăn uống với cholesterol quá mức” (Lipids, 2000).
            Vào năm 2002, TS. C. Auger và đồng nghiệp tại Unité Nutrition, Laboratoire Génie Biologique et Sciencea des Aliments, Université Montpellier, Pháp xuất bản một nghiên cứu trong Journal of Nutrition về chiết xuất rượu vang đỏ trong huyết tương lipoprotein và các chất xơ vữa động mạch trong chuột đồng. Huyết tương cholesterol các triglycerine đậm đặc được hạ xuống trong những nhóm tiêu thụ chiết xuất rượu vang đỏ so sánh với nhóm kiểm tra đối chiếu dùng thuốc trấn an. Có sự giảm đi đáng kể trong sự đậm đặc của huyết tương apoliprotein (Apo) B, một protein gây hại trong LDL. Hoạt động của enzim chất chống ô-xýt hóa glutathione peroxidase tăng lên 67 phần trăm trong nhóm nhận chiết xuất rượu vang đỏ. Chất béo tạo thành vỉa trong khu vực động mạch chủ giảm thiểu đáng kể đến 32 phần trăm trong nhóm tiêu thụ chiết xuất rượu vang đỏ so sánh với nhóm kiểm tra đối chiếu dùng thuốc trấn an. Các nhà bghiên cứu kết luận, “dùng vào bụng lâu ngày chiết xuất rượu vang đỏ ngăn ngừa sự phát triển chất xơ vữa động mạch thông qua một số cơ chế.”
            Vào năm 2006, resveratrol của chất chống ô-xýt hóa rượu vang đỏ được tìm thấy là bảo vệ tim mạch. Trong một nghiên cứu dùng chuột, sự quản lý resveratrol cho thấy có hiệu ứng bảo vệ tim mạch đột ngột (Vascul Pharmacol, 2006). Các kết quả cho thấy rằng chuột được cho resveratrol trước khi cơn đau tim được qui cho thí nghiệm được tìm thấy là có sự phục hồi chức năng tâm thất  hậu thiếu máu cục bộ khá hơn đáng kể, cơn đau tim ít trầm trọng, và sự phá hủy mô tim mạch ít hơn, cũng như là gia tăng ô-xýt nitric và giảm đi của malonaldehyde trong bắp thịt tim.
            Vào cùng năm đó, một nghiên cứu dịch tễ học của Hoa Kỳ đề nghị rằng chế độ ăn uống giàu resveratrol có liên quan đến việc giảm đi nguy cơ với bệnh ở động mạch vành. Các nhà nghiên cứu do TS. A. Csiszar hướng dẫn ở New York Medical College nghiên cứu hiệu ứng resveratrol bởi vì sự kích hoạt TNF-alphainduced endothelial và viêm nhiểm mạch máu đóng một vai trò quí giá trong việc lão hóa mạch máu và các tích tụ mảng bám  lên thành các mạch máu. TNF-alpha viết tắt của nhân tố u hoại tử alpha, là một protein được sản sinh tự nhiên bởi cơ thể  huy động các tế bào bạch cầu để chống lại viêm nhiễm và những kẻ xâm lăng khác. Nếu cơ thể không thải được TNF-alpha, nó được tích chứa, có thể gây nên viêm nhiễm nặng, đau đớn, tổn hại mô trong khắp cơ thể.
            Các nhà nghiên cứu đánh giá là dù cho resveratrol có kiềm chế TNF-alpha-gây nên tín hiệu truyền dẫn tình trạng hay không đối với các tế bào màng bên trong động mạch vành của con người (HCAE). Họ kết luận, “Chúng tôi nhận thấy rằng TNF-alpha gia tăng đáng kể tính kết dính của các đơn bào THP-1 (một tuyến tế bào của đại thực bào của con người) đối với HCAEs, một hiệu ứng có thể được kiềm chế trước với reseratrol và pyrrolidine dithiocarbamate, “một chất chống ô-xýt hoá và chất kềm chế tổng hợp của hạt nhân nhân tố kappa B (NF-kB), một tế bào miễn dịch “cò súng” cho sự viêm nhiễm. Họ ghi nhận rằng “Reseratrol cũng ngăn chặn H2O2-gây nên tính kết dính của các đơn bào,” Các nhà nghiên cứu tuyên bố, “Trong TNF-alpha được trị liệu với HCAEs, reseratrol gây suy giảm đáng kể sự trục xuất các nhân tố gây nên sự viêm nhiễm NF-kappa B-lệ thuộc …”
            “Như thế reseratrol đậm đặc liên quan đến dinh dưỡng kềm chế TNF-alpha-gây nên sự kích hoạt NF-kappa B và trục xuất viêm nhiễm gien và gây suy giảm tính kết dính của các đơn bào đối với các HCAE,” các nhà nghiên cứu kết luận, “Chúng tôi đề nghị rằng những hoạt động chống viêm nhiễm này của reseratrol là có trách nhiệm, ít nhất là một phần, về các hiệu ứng bảo vệ tim mạch của nó.” TS. Csiszar và đồng nghiệp của ông ta  đã xuất bản nghiên cứu của họ trong Aqmerican Journal of Physiology – Heart and Cieculatory Physiology.
            Là kết quả của những nghiên cứu này và các nghiên cứu khác, có sự gia tăng chứng cứ khoa học cho thấy rằng OPC – đặc biệt là những cái đượcphát hiện trong chiết xuất vỏ cây thông miền biển của Pháp, chiết xuất hạt nho, và chiết xuất rượu vang đỏ - mỗi loại bảo vệ chống lại bệnh tim mạch. Tuy nhiên, khi được dùng với hợp chất chúng trở nên đồng vận, và như thế hiệu quả hơn và mạnh hơn khi từng loại được dùng riêng lẻ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét