CHƯƠNG 2
BẢO VỆ TRÁI TIM VÀ TUẦN HOÀN MÁU
Có một số hình thức bệnh về tim và
một số nguyên nhân gây nên. Tuy nhiên, hầu hết mọi người nghĩ cơn đau tim là kết
quả cuối cùng của bệnh tim, và cholesterol liên hệ là nguyên nhân duy nhất.
Chương này sẽ nghiên cứu các nguyên nhân của bệnh tim và các rối loạn tuần hoàn
khác và thảo luận về các lợi ích của OPC đối với tim mạch.
Các nghiên cứu trước đây về bệnh tim
với các chất chống ô-xýt hóa
Nghiên
cứu sớm nhất cho thấy các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa giảm thiểu sự cố về
bệnh tim mạch xuất phát từ các nghiên cứu dịch tễ học tôi dã thực hiện giữa thập
niện 1970. Các kết quả của nghiên cứu cho thấy sự thâm nhập lâu dài của sinh tố
E tương quan với các giảm thiểu đáng kể sự cố về bệnh tim mạch lần đầu xuất
hiện trong lần phát hành vào năm 1976 của tạp chí Prevention và và năm sau sách của tôi Supernutrition for Healthy Hearts (Dial Press, 1977) được xuất bản.
Các sự việc được tìm ra bộc lộ rằng số lượng điều độ của chất dinh dưỡng chống
ô-xýt hóa có thể giảm thiểu sự cố bệnh tim gần 40 phần trăm trong một số nhóm
tuổi khi dùng trên mười năm.
Nghiên cứu về 17.894 người giữa các
độ tuổi năm mươi và chín mươi tám cho thấy sự giảm xuống đột ngột về bệnh tim
với những ai dùng sinh tố E trong thời gian dài, trung bình là 40 phần trăm. Tôi
nhận thấy rằng thời gian dùng sinh tố E quan trong hơn là số lượng. Khuynh
hướng này hiển nhiên đặc biệt là dùng trên chín năm. Nhóm dùng 400 IU (đơn vị
quốc tế) hoặc nhiều hơn sinh tố E mỗi ngày trong 10 năm hay nhiều hơn mười năm
liên kết mạnh mẽ với việc giảm thiểu bệnh tim trước tám mươi tuổi giảm được 10
phần trăm so với tỉ lệ thông thường.
Trong số 2.508 người dùng sinh tố E
trên mười năm, chỉ có bốn người bị bệnh tim. Thông thường trong mẫu của kích cỡ
đó, vào khoảng 836 người có triển vọng mắc bệnh tim. Các mẫu thống kê chính xác
tiết lộ rằng có thể tin tưởng nhiều về tuyên bố rằng dùng 400 IU sinh tố E mỗi
ngày trên mười năm sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tim đến 10 phần trăm so với tỉ lệ
điều chỉnh hiện hành (1975) từ 32 phần trăm xuống còn 3 phần trăm.
Quan sát thời gian dùng sinh tố E
liên kết mạnh mẽ với việc giảm thiểu bệnh tim là mạnh mẽ và cực kỳ đáng kể. Tổ
chức thống kê Spearman-Rho là 0,96 trong khi 1,00 là tổ chức hoàn hảo. Sự tương
quan thì khác biệt đáng kể từ số không hoặc xác suất xuất hiện với mức độ
0,01).
Trong nhận thức muộn màng, lý do giờ
đây có vẻ hiển nhiên. Với bất kỳ độ tuổi nào được đưa ra, điều này có nghĩa là
thời gian dùng sinh tố E lâu hơn, các động mạch sẽ được bảo vệ lâu hơn tránh
khỏi cholesterol lipoprotein độ đậm đặc thấp bị ô-xýt hóa (LDL). Việc bảo vệ
được khởi sự sớm hơn và các động mạch sạch hơn.
Vào năm 1993, hai nghiên cứu dịch tễ
học do các nhà nghiên cứu của Harvard
University xác nhận các
kết quả tìm ra của tôi. TS. Meir Stampfer và đồng nghiệp xuất bản một nghiên
cứu dịch tễ học điều tra trong tám năm về 87.245 y tá và báo cáo rằng phụ nữ dùng
hơn 100 IU sinh tố E mỗi ngày trong hơn hai năm có 46 phần trăm thấp hơn về
nguy cơ mắc bệnh tim. Cũng vậy, TS. Eric Rimm và đồng nghiệp ở Harvard của ông
ta đã xuất bản một nghiên cứu dịch tễ học điều tra trong năm năm về 51.529 các
chuyên gia sức khỏe nam và báo cáo rằng nam giới dùng hơn 100 IU sinh tố E mỗi
ngày trong hơn hai năm có 37 phần trăm thấp hơn về nguy cơ mắc bệnh tim. Lại
nữa, ta nên ghi nhận rằng thời gian dùng sinh tố cần thiết phải ít nhất là hai
năm mới có thể quan sát được sự sụt giảm đáng kể về bệnh tim.
Sinh tố E hoạt động như một chất
chống ô-xýt hóa để bảo vệ các động mạch, các protein vận chuyển cholesterol, và
các tiểu máu. Tôi sẽ giải thích các chức năng
sau, nhưng bây giờ tôi muốn chỉ ra rằng OPC thì mạnh hơn sinh tố E trong
việc thực hiện các chức năng này và theo ý kiến của tôi là OPC hiệu dụng hơn
sinh tố E riêng lẻ. Vì các bạn có thể nhớ lại Chương 1, sinh tố E chỉ là chất
chống ô-xýt hóa phenolic đơn trong khi OPC là chất chống ô-xýt hóa phenolic đa.
Số lượng lớn lao các nhóm phenolic trong OPC là một lý do cho khả năng trung
hòa một phạm vi rộng các gốc tự do của chúng. Cũng là ý kiến của tôi phương
thức bảo vệ tốt nhất là một tổng hợp hợp lực của OPC, sinh tố E và sinh tố C.
Cách thức các Gốc Tự do gây nên Bệnh
Tim
Con
đường dẫn đến cơn đau tim theo hai bước. Atherosclerosis (xơ vữa động mạch) là
thuật ngữ y khoa cho sự hẹp lại các động mạch không phải tự thân nó gây nên các
cơn đau tim. Thrombosis (cục nghẽn trong máu) và vasoconstriction (sự co lại
và/hoặc là co cứng của một động mạch) là những sự kiện thường thường gây nên
một cơn đau tim.
Trước tiên “foam cells = các tế bào
bọt” (các bạch huyết cầu bị bao phủ bởi ‘LDL ô-xýt hóa = lipoprotein độ đậm đặc
thấp bị ô-xýt hóa’) bám chặt vào vách của động mạch. Những tế bào này gây nên
sự thẩm thấu nhiều chất liệu qua thành động mạch vào lớp chính giữa của động
mạch. Giờ đây ta có thể nói rằng động mạch “đã mắc bệnh” vì một mảng bám đã
được hình thành bệnh trong động mạch. Khi mảng bám đó dày lên, thành động mạch
bị đẩy ra và khoảng trống máu chảy qua bị hẹp lại. Như thế lưu lượng máu vào mô
tim bị giảm đi. Động mạch bị hẹp đi cũng gây tổn hại cho các tiểu cầu của máu
chảy qua, khiến cho máu bị “dính lại” và thúc đẩy hình thành cục nghẽn tại vị
trí của mảng bám.
Hãy ghi nhận rằng then chốt vấn đề
là ở điểm là động mạch bị hẹp lại (các mạch máu dẫn máu từ tim ra) ép các tế
bào tiểu cầu máu và gây tổn hại cho chúng. Các tế bào tiểu cầu là các tế bào
kết khối lại và thành cục nghẽn trong máu. Nếu các bạn bị vết cắt, chúng làm
nghẽn mạch máu và bạn bị xuất huyết đến chết. Nhưng trong các mạch máu, các hợp
quần của tiểu cầu gây nên các cục nghẽn ngăn chặn máu lưu thông. Những cục
nghẽn này có thể cư trú ở các động mạch bị làm hẹp lại của tim (động mạch vành)
hoàn toàn làm nghẽn dòng máu chảy trong động mạch đó. Khi sự việc này xảy ra,
các bác sĩ gọi nó là chứng huyết khối động mạch vành – một cục nghẽn máu trong
động mạch vành. Như thế, phát biểu là ai đó đang mắc bệnh “động mạch vành”.
Khi cục nghẽn máu ngắt dòng máu trong
động mạch vành, khu vực trái tim được động mạch vành đó nuôi dưỡng thiếu ôxy và
chất dinh dưỡng. Kết quả là các tế bào này bị chết, được gọi là bị nhồi máu.
Đây là cơn đau tim cổ điển được gọi là nhồi máu cơ tim cấp tính, hay gọi ngắn
gọn là AMI.
Sự co mạch khiến cho lượng máu đến
tim bị giảm đi bởi việc đường kinh động mạch bị co lại. Nó thậm chí ngắt hoàn
toàn lượng máu trong động mạch.
Một hình thức thông thường khác của
bệnh tim là suy tim, trái tim quá yếu để có thể bơm máu một cách hiệu quả. Thường
thường trái tim nở lớn khi nó cố gắng bù lại lượng máu bơm ra bị giảm đi.
Angina là cơn đau xảy ra trong tim khi không có đủ lượng máu đến được tất cả các
phần của tim trong khi nó hoạt động. Áp huyết cao (hypertension) ảnh hưởng đến
các động mạch và đó là nhân tố nguy hiểm trong nhiều hình thức của bệnh tim.
Trở lại sự xơ vữa động mạch, tiến
trình hình thành kết tủa hạn chế (mảng bám) đã có thời được nghĩ rằng rất đơn
giản. Các bạn ăn thức ăn giàu cholesterol và nó bám vào các động mạch. Ngày nay
người ta biết rằng tiến trình hình thành mảng bám thì quá phức tạp và chỉ liên
quan trực tiếp đến cholesterol từ chế độ ẩm thực đối với một thiểu số người. vâng,
tiến trình rất là phức tạp, nhưng quan trọng là phải nhớ rằng các gốc tự do có
dính líu vào và rằng là các OPC, các chất chống ô-xýt hóa, có chức năng bảo vệ.
Cholesterol không hòa tan trong máu,
cho nên nó được chuyên chở trong các hạt được gọi là “lipoprotein”. Hai
lipoprotein quan trọng là lipoprotein đậm đặc thấp (LDL) và lipoprotein đậm đặc
cao (HDL). Cholesterol do LDL vận chuyển thường được gọi là “cholesterol xấu”
được vận chuyển đến các tế bào từ gan. Cholesterol do HDL vận chuyển thường
được gọi là “cholesterol tốt” vì nó được mang đi khỏi các tế bào trở về gan.
Các kết tủa cholesterol chỉ được
hình thành khi LDL bị các chất chống ô-xýt hóa hủy diệt – có nghĩa là bởi các
gốc tự do. Lúc đó nó được gọi là LDL bị ô-xýt hóa. LDL bị ô-xýt hóa có thể thấm
qua thành động mạch vèb khởi sự một chuỗi sự kiện bẫy các LDL bị ô-xýt hóa chứa
cholesterol tích tụ bên trong thành mạch máu. Các tế bào bạch cầu chống lây
nhiễm vì thấy rằng có gì đó bị sai, bị hấp dẫn đến hiện trường và phồng lên tạo
thành các tế bào với bọt, sau đó hóa
thành thương tổn, thông thường được gọi là cholesterol kết tủa.
LDL chỉ bị ô-xýt hóa khi số lượng
chất chống ô-xýt hóa không đủ để bảo vệ LDL chống lại việc ô-xýt hóa của các
gốc tự do. Các nghiên cứu của TS. A. Nelson và đồng nghiệp vào năm 1998 cho
thấy rằng các OPC chứa Pycnogenol® trực tiếp bảo vệ LDL (Nelson và cộng
sự, 1998). Tuy nhiên, Pycnogenol cũng có thể gián tiếp bảo vệ LDL. Pycnogenol
có thể tái chế sinh tố C, tiếp nữa tái chế sinh tố E, vẫn là chất chống ô-xýt
hóa chủ yếu LDL.
Pycnogenol cũng có thể phá hủy các
gốc tự do trước khi chúng đến được với LDL và gây nên tổn hại. Khuynh hướng tạo
nên LDL bị ô-xýt hóa, và như thế tạo cholesteroal kết tủa (atherosclerosis = xơ
vữa động mạch), tùy thuộc và hai nhân tố: lượng của LDL trong máu và sự cân
bằng giữa sự hiện diện của chất chống ô-xýt hóa và gốc tự do. Cả hai đều quan
trọng nhưng sự cân bằng của chất chống ô-xýt hóa / gốc tự do là quan trọng nhất
trong hai nhân tố.
Cũng quan trọng để nhận biết rằng
cái được gọi là cholesterol xấu, LDL, thì không xấu trừ phi nó thiếu chất chống
ô-xýt hóa. LDL cần đến để chuyên chở các chất chống ô-xýt hóa hòa tan trong
chất béo (như sinh tố E) trong mạch máu, có nghĩa là nó cần thiết cho sức khỏe.
Nhưng giống như phần còn lại của cơ chế, cholesterol LDL cũng cần đến các chất
chống ô-xýt hóa để khỏe mạnh.
Hãy nhớ rằng cholesterol tự chúng
kết tủa không gây nên cơn đau tim. Chúng là nhân tố chính đóng góp vào việc
hình thành cục nghẽn máu gây nên cơn đau tim. Bao lâu mà máu có thể nén qua sự
chật hẹp gây ra bởi chất kết tủa cholesterol với khối lượng đủ, trái tim vẫn
nhận đủ ôxy và các dưỡng chất duy trì sự sống cho mô tim. Một nhân tố có tính
quyết định đó là duy trì “độ trơn trợt” đúng của tế bào của máu và ngăn ngừa
cục nghẽn tạo nên ở các động mạch vành. OPC có hiệu ứng ngăn chặn chống sự tụ
hội (chống nghẽn) trên các tiểu cầu của máu, và đặc biệt là hiệu ứng chống lại
sự tổn hại đối với các tiểu cầu.
OPC duy trì sự thư giản cho tuần hoàn
máu và mạch máu Các
tiểu cầu máu là các tế bào máu nhỏ, hình đĩa, không màu sắc nhỏ hơn các tế bào
hồng cầu. Có khoảng 150.000 đến 300.000 tiểu cầu trong một centimét khối máu.
Thật là kỳ bí đối với tôi chỉ là các tiểu cầu giống như cái bánh bít qui với sô
cô la khi được quan sát qua kính hiển vi điện tử. Ngay cả các hạt protein trên
bề mặt tiểu cầu trông giống các mảnh sô cô la.
Các tiểu cầu đóng vai trò chính yếu
trong quá trình đông tụ máu để không bị chảy máu (sự cầm máu). Khi sự chảy máu
bắt đầu, mạch máu xiết lại, một protein được gọi là “nhân tố mô” được thải ra,
và một protein (chất tạo keo) trong thành mạch máu xuất hiện, một lipoprotein
trên bề mặt của tiểu cầu được gọi là “tiểu cầu nhân tố 3” được kích hoạt và
phản ứng với các nhân tố máu để xúc tiến việc hình thành việc bít lại bằng tiểu
cầu và khởi sự các bước khác trong cơ chế nghẽn máu. Khi tiểu cầu nhân tố 3 được
kích hoạt tiểu cầu thay đổi hình dạng và được nói là “được kích hoạt”.
Tuy nhiên, các tiểu cầu có thể được
kích hoạt ngay cả khi không có sự chảy máu, và điều này thì không tốt. Nếu
chúng bị kích hoạt, chúng sẽ có khuynh hướng tụ lại hoặc kết khối lại và hình
thành cục nghẽn máu không mong muốn có thể làm nghẽn dòng máu di chuyển trong
mạch máu, và kết quả là một cơn đau tim hay đột quị. Nếu cục nghẽn máu không
mong muốn không di chuyển nó được gọi là cục đông (thrombus) và nếu nó di
chuyển trong mạch máu nó là sự nghẽn mạch (embolism).
Các tiểu cầu có thể bị kích hoạt với
khói thuốc lá và stress, cũng như bởi bệnh tiểu đường và một số khiếm khuyết
dinh dưỡng nhất định. Khi người ta già đi, tỉ lệ phần trăm lớn hơn đối với tiểu
cầu có khuynh hướng bị kích hoạt.
Stress tạo nên các sự kích hoạt
không mong muốn tương tự mà hút thuốc, bệnh tiểu đường và một số khiếm khuyết
dinh dưỡng tạo nên. Khi chúng ta bị stress, adrenaline của chúng ta thật sự
tuôn trào. Adrenaline kích hoạt các tiểu cầu máu sẳn sàng kết khối lại và tạo
nên cục nghẽn máu. Hơn nữa, adrenaline gây xiết mạch máu lại với hậu quả là áp
huyết cao hơn. Các sự thay đổi sinh lý học này là tiện ích trong nhiều năm
trước đây khi chúng ta gặp hiểm nguy vì bị động vật hoang dã tấn công. Khi một
vết thương xuất hiện, các tiểu cầu máu sẳn sàng nhanh chóng tạo nên cục nghẽn
máu và ngăn ngừa hữu hiệu việc mất máu.
Ngày nay, chúng ta sống với stress
thường xuyên – trong công việc và ở nhà. Hình như chúng ta chưa bao giờ có thời
gian thư giản. Tình trạng bị stress thường xuyên gây nên việc xiết các mạch máu
lại, cũng như liên tục kết dính các tiểu cầu.
Hậu quả là đường kính của các mạch
máu bị giảm thiểu, có ít đi khoảng không cho máu lưu chuyển. Kết màng xơ vữa
động mạch có thể giảm thiểu thêm khoảng không cho máu lưu chuyển. Nếu một số
tiểu cầu kết dính và tạo nên cục nghẽn, mạch máu có thể hoàn toàn bị nghẽn và
các mô chung quanh không còn được cung cấp chất dinh dưỡng và ôxy. Đó là cách
thức nhồi máu cơ tim và đột quị triển khai.
May mắn thay, OPC giúp bảo vệ chúng
ta khỏi sự tổn hại với stress. OPC không thể khiến nguyên nhân gây nên stress
biến mất. Nhưng Pycnogenol giàu OPC quan trọng có thể cải thiện các mức độ
nitric oxide (N2O5) được sản sinh bởi các mạch tế bào của
các động mạch và các mạch máu (Fitzpatrick và cộng sự, 1998). Ôxít nitric hướng
dẫn các bắp thịt chung quanh các mạch máu và khiến chúng thư giản. Cùng lúc
ôxít nitric cũng hướng dẫn các tiểu cầu trở về tình trạng không dính bình
thường của chúng, và không còn “bị báo động”. Như thế Pycnogenol giup1 cơ chế riêng của cơ thể làm mất tác dụng
hoạt động của kích thích tố adrenaline stress. Pycnogenol giúp duy trì tính
trơn của máu (như là một chất kháng đông) để giảm thiểu các cơn đau tim và đột
quị.
Các nghiên cứu được thực hiện bởi TS.
Peter Rohdewald ở Đức và TS. Ronald Watson ở Hoa Kỳ cho thấy rằng Pycnogenol
kềm chế hiệu ứng của adrenaline lên các tiểu cầu máu, như thế giảm thiểu khuynh
hướng kết khối để hình thành cục nghẽn máu. Khi một người bị stress, lượng lớn
adrenaline được thải ra, gây cho các tiểu cầu máu kết khối với nhau. Pycnogenol
đặc biệt hiệu dụng chống lại sự gia tăng kết khối các tiểu cầu (tính kết dính
và khuynh hướng gia tăng cục nghẽn) bị gây nên bởi hút thuốc (Pütter và cộng sự,
1999).
Nghiên cứu của TS. Watson được xuất
bản trong Cardiovascular Reviews Reports
vào năm 1999 với nhan đề “Reduction of Cardiovascular Disease Risk Factors by
French Maritime Pycnogenol” (Araghi-Nicknam và cộng sự, 1999). Một bài báo viết
chung bởi TS. Watson, Rohdewald và các đồng nghiệp được xuất bản trong Thrombosis Research vào năm 1999 như
“inhibition of Smoking-Induced Platelet Aggregation by Aspirin and Pycnogenol”
(Pütter và cộng sự, 1999).
Trong các nghiên cứu lâm sàng, hiệu
ứng của liều đơn 100 mg Pycnogenol được quan sát trong hai giờ, và hiệu ứng bảo
vệ này kéo dài trong mười hai giờ sau khi ăn vào, và liều lượng 200 mg đã bảo
vệ máu lên đến hai hay ba ngày. Khi người hút thuốc dùng 200 mg Pycnogenol mỗi
ngày trong sáu mươi ngày, các tiểu cầu máu trở lại hầu như bình thường như
người không hút thuốc.
TS. Watson đã so sánh khuynh hướng
tạo thành các cục nghẽn máu trong một nhóm người lớn tuổi (tuổi trung bình là
sáu mươi lăm) với một nhóm người trẻ hơn (tuổi trung bình là ba mươi hai). Ông
ta cho thấy rằng khuynh hướng tạo cục nghẽn máu ở người lớn tuổi cao hơn đáng
kể so với nhóm người trẻ hơn – một sự tìm ra giúp giải thích tỉ lệ mắc phải sự
hình thành sự đông máu, nhồi máu cơ tim, và đột quị với sự gia tăng tuổi tác.
Sau khi bổ sung hàng ngày với Pycnogenol trên tám tuần, khuynh hướng hình thành
cục nghẽn máu trong nhóm người lớn tuổi hầu như bình thường hóa giá trị như của
nhóm ba mươi hai tuổi (Araghi-Niknam, 1999). Pycnogenol cải thiện tuần hành máu
trong nhóm người lớn tuổi thông qua một cơ chế chống chứng huyết khối và bằng
cách gây giãn mạch thông qua việc sản xuất tối ưu ôxit nitric từ màng bên trong
(endothelium).
Hiệu ứng bảo vệ của Pycnogenol đạt
được bằng cách hỗ trợ việc sản xuất phân tử ôxit nitric sứ giả riêng của cơ thể
(một loại như chất kích thích tố). Như đã được giải thích trước đây, ôxít
nitric được sản xuất từ các tế bào hình thành bên trong các mạch máu. Nó hoạt
động trên các tiểu cầu máu để “giữ cho chúng yên tĩnh”, ngăn chặn chúng khỏi
tình trạng cảnh báo và kết dính không hình thành cục nghẽn máu.
Pycnogenol làm chậm đi sự hợp quần
các tiểu cầu bằng cách kềm chế hoạt động
của các enzim thromxane A2, 5-lipoxygenase, và các hợp chất tạo cục nghẽn khác.
Hơn nữa, sự bảo vệ đến mà không gia tăng nguy hiểm xuất huyết kéo dài, hay hiệu
ứng phụ thông thường đối với aspirin.
Ngoài ra, Pycnogenol làm giảm đi mức
độ thromboxane A2, cũng là một vasocontrictor (một chất xiết các mạch máu, vì
thế làm giảm đi lưu chuyển máu và gia tăng áp huyết) trong những người hút
thuốc xuống mức độ bình thường như những người không hút thuốc (Araghi-Niknam
và cộng sự, 1999).
Một điểm quan trọng đó là hiệu ứng
lợi ích của Pycnogenol thì khác với hiệu ứng của aspirin lên tiểu cầu máu. Sự
khác biệt, mặc dù là kỹ thuật, vẫn quan trọng. OPC hỗ trợ việc sản xuất ôxit
nitric riêng của cơ thể, trong khi đó aspirin kiềm chế không khả nghịch enzim
cycooxygenase, chất đưa đến các vấn đề xuất huyết không mong đợi.
Aspirin được kê toa rộng rãi bởi các
thầy thuốc bệnh tim mạch để bảo vệ chống các cơn đau tim. các nghiên cứu trước
đây cho thấy rằng dùng đúng liều lượng aspirin có thể giảm thiểu tỉ lệ mắc phải
cơn đau tim trong các bệnh nhân đau tim. Những nghiên cứu sau đó cho thấy
aspirin cũng có thể giảm thiểu rủi ro bị cơn đau tim đầu tiên.
Cho đến bây giờ, điều này nghe có vẻ
tốt, nhưng chẳng may là nhiều người phát triển các vấn đề nghiêm trọng khi dùng
aspirin kéo dài. Họ có thể phát triển loét lớp bọc của bó bao tử - ruột non và
khuynh hướng xuất huyết. Một số người được biết là phát triển tình trạng này
đột biến và không có cảnh báo trước. Trong khi việc chữa trị bằng aspirin có
ích lợi cho nhiều người, các bạn nên kiểm tra trước với bác sĩ của mình trước
khi dùng nó trên cơ bản lâu dài.
Mặt khác, OPC an toàn và không gây
gia tăng xuất huyết hoặc hiệu ứng phụ như của aspirin. Trong các nghiên cứu bởi
các TS. Rohdewald và Watson, người ta nhận thấy rằng 100 mg Pycnogenol đạt được
hiệu ứng mong muốn lên các tiểu cầu máu ở người hút thuốc tương tự với 500 mg
của aspirin – và không có xuất huyết kéo dài và các biến chứng phụ khác như của
aspirin (Pütter và cộng sự, 1999).
Tổn hại đối với màng bên trong, hoặc
tuyến mạch máu của tim và các động mạch cũng có thể gây nên hình thành các cục
nghẽn và cho phép các chất vận chuyển cholesterol xâm nhập thành của động mạch.
Các nhà nghiên cứu tại Loma Linda University
ở Southern California nghiên cứu hiệu ứng bảo
vệ của Pycnogenol dùng các tế bào màng bên trong chính. Họ đã tìm ra rằng Pycnogenol
giảm thiểu tổn hại đối với các tế bào màng bên trong gây ra bởi các gốc tự do
và thông qua các thành phần độc hại khác (Liu và cộng sự, 2000). Họ đã sớm ghi
nhận rằng Pycnogenol gia tăng việc sản sinh các chất chống ô-xýt hóa khác trong
các tế bào (Wei và cộng sự, 1997).
OPC Hạ Huyết áp xuống
Pycnogenol
cũng có hiệu ứng giảm áp huyết (blood pressure-lowering) giúp ngăn ngừa huyết
áp cao. Hiệu ứng này là quan trọng., nhưng không thể biến Pycnogenol thành
thuốc chống huyết áp cao. Có hai lý do được biết đến cho hành động này. Thứ
nhất là cơ chế, nói theo trước đây, liên quan đến việc tối ưu hóa sự sản xuất
ô-xýt nitric trong mạch máu. Một số nhà nghiên cứu bao gồm TS. David Fitzpatrik
của University
of South Florida
và TS. Lester Packer của University of California, Berkeley đã thực hiện nghiên
cứu về Pycnogenol và ô-xýt nitric, và cách thức mà Pycnogenol cân bằng mức độ
ô-xýt nitric trong động mạch để tạo điều kiện cho máu lưu chuyển dễ dàng. Cơ
chế thứ hai là những gì tôi sẽ thảo luận liên quan đến khả năng của OPC về kềm
chế enzim trong máu xiết và làm hẹp các động mạch.
Các nhà khoa học quan tâm rất nhiều đến
ô-xýt nitric, mặc dù nó đã bị loại bỏ nhiều thập niên vì là hợp chất không quan
trọng trong cơ thể - chủ yếu là sản phẩm thải bỏ hoặc là chất ô nhiễm không khí
được hít vào. Ô-xýt nitric đã được gọi là “Phân tử của Năm” vào năm 1992 bởi
tạp chí chuyên đề danh tiến Science.
Vào năm 1998, ba nhà khoa học đã được trao giải thưởng Nobel cho các nghiên cứu
của họ về ô-xýt nitric. Giờ đây chúng ta hiểu rằng có những hiệu ứng trong cơ
thể ngoài tầm với của chúng ta.
Ô-xýt nitric đóng một vai trò trong các chức năng hóa
sinh. Nó cải thiện trí nhớ và sự lưu ý; nó gia tăng khả năng dẫn truyền của
thận, phổi, và gan bằng cách cải thiện tuần hoàn máu; nó bảo toàn sự vận hành
của hệ thống tim mạch; và nó chịu trách nhiệm về dương cương.
Trong các thuật ngữ về bệnh tim,
người đọc có thể quen thuộc với sự kiện trong suốt quá trình chứng đau thắt
ngực (đau ngực) bệnh nhân sẽ cảm thấy
giảm nhẹ nếu uống thuốc nitroglycerin.
Những viên thuốc nitroglycerin thải ra ô-xýt nitric chất tạo thư giản cho
các động mạch vành và tạo cho máu chảy về tim nhiều hơn.
Như được mô tả trước đây, bên trong
các mạch máu, hoặc là màng bên trong, của các động mạch sản sinh ra ô-xýt
nitric đóng vai trò trong việc điều hòa sự lưu chuyển máu. Ngoài ra, ô-xýt
nitric được sản sinh trong động mạch cũng gia tăng việc sản xuất sứ giả hóa học
được gọi là “Cyclic-GMP” (guanosine monophosphate) cần thiết giữ cho các tiểu
cầu máu được trơn và không thiên về việc họp lại hay tụ lại thành nhóm.
Pycnogenol kích thích enzim ô-xýt nitric synthase sản sinh ra ô-xýt nitric bên
trong các động mạch từ arginin axít amin.
Một số ô-xýt nitric luôn luôn là cần
thiết, nhưng quá nhiều thì có thể giết chết các tế bào. Pynogenol giúp điều hòa
mức độ ô-xýt nitric trong thân thể với mức độ tối ưu nhất. Nó giúp cơ thể sãn
sinh ra lượng ô-xýt nitric đủ cho các chức năng cần thiết, trong khi giảm mức
độ ô-xýt nitric nơi nó có thể gây hại.
TS. Fitzpatrik cũng tiến hành những
thử nghiệm để xác định hiệu ứng của Pycnogenol theo các phần nhỏ của động mạch
chủ, động mạch chính lưu chuyển máu từ tim ra. Ông ta đã nhận thấy rằng nó cải
thiện sự sản xuất ô-xýt nitric trong màng bên trong, sau đó nó có hiệu ứng thư
giản trên động mạch chủ theo cách thức tùy theo liều lượng. Các kết quả được
xuất bản vào năm 1998 trong Journal of
Cardiovascular Pharmacology (Fitz-Patrik và cộng sự, 1998).
OPC cũng trợ giúp trái tim bằng cách
ngăn chặn một trong những hành động của angiotensin I chuyển thành enzim (ACE)
trong việc gây nên huyết áp cao. Theo cách này, OPC cũng tương tự, nhưng an
toàn hơn các loại thuốc được bào chế bình thường được gọi là các chất kềm chế
ACE. ACE can thiệp vào với bradykinine, một hợp chất giúp duy trì ngoại vi của
các mạch máu giãn nở đúng. Ngăn chặn hành động này dẫn tới việc bình thường hóa
huyết áp mà không gặp nguy hiểm là kéo huyết áp xuống quá thấp. Nó cho phép bradykinine
hoạt động như nó nên làm, không gây trở ngại gì bởi ACE.
TS. Miklos Gabor và đồng nghiệp của
ông ta tại Albert Szent-Györgyi Medical
University in Szeged , Hungary ,
cùng với TS. Peter Rohdewald của University of Muenster, Đức nhận thấy rằng OPC
quan trọng, Pycnogenol có hành động tùy thuộc vào liều lượng trong việc ngăn
chặn ACE khỏi việc tăng áp huyết. Dựa trên nghiên cứu của họ, được xuất bản năm
1996 trong Pharmaceutical and
Pharmacological Letters, các nhà nghiên cứu mô tả hiệu ứng giảm huyết áp
của Pycnogenol là “ôn hòa” – những ai có huyết áp bình thường hoặc áp huyết
thấp sẽ không bị ảnh hưởng – trong khi những người có huyết áp cao do bởi quá
nhiều ACE sẽ hưởng lợi.
Hơn nữa, một nghiên cứu lâm sàng được xuất bản bởi TS.
Ronald Watson, giáo sư ở Department of Nutritional Sciences ở University of
Arizona, vào năm 2001 xét nghiệm khả năng này. TS. Watson và nghiên cứu của các
đồng nghiệp của ông ta là nghiên cứu ngẫu nhiên, có tính cách
loại trừ những sai lầm từ phía người làm thí nghiệm và nhóm được
thí nghiệm, kiểm tra thuốc
trấn an, triển vọng, tạp giao trong mười sáu tuần lễ để xác định vai trò của Pycnogenol trong việc
điều chỉnh huyết áp trong các bệnh nhân có huyết áp tăng ôn hòa.
Họ tìm thấy một sự giảm thiểu đáng
kể trong huyết áp tâm thu trong khi bổ sung Pycnogenol. (Áp suất tâm thu miêu
tả áp suất trong các động mạch khi trái tim co rút lại và bơm máu vào các động
mạch). Cũng nữa, huyết thanh thromboxane đậm đặc được giảm đáng kể trong khi bổ
sung Pycnogenol (Araghi-Niknam và cộng sự, 1999). Các nhà khoa học kết luận,
“Các dữ liệu của chúng tôi cho thấy rằng sự bổ sung Pycnogenol là có hiệu quả
trong việc giảm thiểu huyết áp tâm thu trong các bệnh nhân huyết áp cao.”
Vào năm 2004, các nhà nghiên cứu do TS.
X. Liu hướng dẫn, xác nhận rằng Pycnogenol cải thiện chức năng màng bên trong
của các bệnh nhân huyết áp cao và cho phép những ai dùng thuốc chống huyết áp
cao giảm thiểu liều lượng của họ (Life
Science, 2004).
OPC
Bảo vệ chống lại các Hiệu ứng phụ có hại về Huyết áp cao
Pycnogenol
cũng có giá trị đối với ai đã đang được trị liệu về huyết áp cao. Một nghiên
cứu được xuất bản vào năm 2006 phát hành trên Journal of Clinical and Applied Thrombosis/Hemostasis cho thấy
Pycnogenol giảm thiểu bệnh phù, một biến chứng phụ tiêu biểu của thuốc chống
huyết áp cao, vào khoảng 36 phần trăm trong các bệnh nhân dùng các dược phẩm
này.
Theo TS. Gianni Belcaro nhà nghiên
cứu hướng dẫn của một nghiên cứu, hơn 35 phần trăm bệnh nhân dùng thuốc chống
huyết áp cao được tin rằng phải chịu đựng bệnh phù như biến chứng phụ. Điều này
xảy ra bởi vì thuốc chống huyết áp cao gây cho các mạch máu giãn ra, cho phép máu
lưu chuyển dễ dàng hơn và như thế hạ huyết áp. Tuy nhiên, là một biến chứng
phụ, việc này gây nên cho máu tụ lại trong các mạch máu của phần dưới của chân.
Kết quả là chúng lan ra và chất lỏng thấm vào mô gây nên sự sưng phồng (phù).
Huyết áp cao là nhân tố nguy hiểm trầm trọng đối với việc triển khai mắc bệnh
tim mạch trầm trọng lúc nào đó trong tương lai và như thế điều cần thiết cho
chữa trị là xác nhận chứng phù là một biến chứng phụ.
Thuốc chống huyết áp cao giảm đi áp suất bằng cách kềm
chế sự xiết các mạch máu lại. TS. Belcaro phát biểu “Đường kính mạch máu càng
lớn máu sẽ lưu chuyển dễ dàng hơn với áp suất thấp hơn,” “Để có thể tránh máu
đọng lại ở phần dưới chân và bàn chân (chứng phù), đường kính của mạch máu phải
điều chỉnh khi một người thay đổi tư thế đang nằm sang tư thế đứng lên. Các kết
quả của nghiên cứu này cho thấy Pycnogenol cải thiện tuần hoàn máu, tránh sự
đọng máu lại, và giảm thiểu chứng phù.”
Nghiên cứu mẫu về năm mươi ba bệnh nhân huyết áp cao ở G.
D’Annunzio University ở Ý. Tất cả các bệnh nhân chịu đựng chứng phù ở mắt cá
chân và bàn chân là kết quả dùng thuốc trị liệu huyết áp cao, và đang dùng
thuốc cùng một liều lượng giống nhau trong thời gian ít nhất là bốn tháng. Hai
mươi ba bệnh nhân đang được điều trị với chất kềm chế ACE (nhãn hiệu là Mavik, Altec)
và ba mươi bệnh nhân đang được điều trị khóa kênh canxi nifedipine (nhãn hiệu
Adalat, Procardia).
Trong nghiên cứu tám tuần lễ, hai mươi bảy bệnh nhân được
dùng 150 mg Pycnogenol mỗi ngày đối chứng với hai mươi sáu bệnh nhân còn lại
dùng cùng liều lượng với giả dược (thuốc mất hoạt tính).
Các mạch máu gây nên chứng phù của phần dưới chân được đ
với dụng cụ đo biến dạng plethysmography (một dụng cụ thông thường dùng xác
định và ghi nhận các biến số trong kích cỡ của một cơ quan hoặc chi, trong
trường hợp này là phần dưới của chân). Các bệnh nhân trước tiên được đo theo tư
thế nằm ngữa vau đó là tư thế đứng.
Sau tám tuần lễ, trị liệu với Pycnogenol, các bệnh nhân
dùng các nhân tố kềm chế ACE nhận được sự giảm xuống 35 phần trăm phù mắt cá
trong khi các bệnh nhân với nifedipine giảm xuống 36 phần trăm. Theo TS.
Belcaro, Pycngây nên suy tim. Nghiên cứu này cho thấy rằng Pycnogenol ogenol
giúp chống lại biến chứng chủ yếu của thuốc chống huyết áp cao.
Một nghiên cứu tiếp theo xác nhận rằng Pycnogenol bảo vệ
trái tim chống lại các hiệu ứng của áp huyết cao. Nghiên cứu được xuất bản
trong ấn bản năm 2007 trên báo chuyên đề về Cardiovascular
Toxicology, chỉ ra rằng Pycnogenol giúp ngăn ngừa các nguy hại mà áp huyết
cao gây nên cho trái tim. Nghiên cứu chứng minh rằng Pycnogenol có thể làm mất
tác dụng của sự “mệt mỏi” của trái tim, có thể trợ giúp cho năm triệu người Mỹ
sống với bệnh suy tim.
Trong áp huyết cao, tim phải làm việc quá mức dần dần trở
nên mệt mỏi đưa đến kết quả là làm yếu đi các bắp thịt của tim và một hay nhiều
ngăn tim trương nở. Quá trình này (được biết là sửa đổi tim) gây thêm khó khăn
cho trái tim trong việc bơm cung cấp đủ máu có chứa ô-xy đáp ứng nhu cầu cho cơ
thể, và có thể cuối cùng gây nên suy tim. Nghiên cứu này cho thấy rằng Pycnogenol
ngăn ngừa cho tim khỏi mệt mỏi trong chứng huyết áp cao. Các thành của ngăn tim
cho thấy tỉ lệ cao hơn đáng kể tỉ lệ các mô liên kết tạo keo hơn là của các
nhóm kiểm soát đối chứng.
Các cách chữa trị thay thế chẳng hạn như với Pycnogenol
là các thành phần quyết định trong việc chống lại bệnh tim,” Theo tuyên bố của TS.
Watson, nhà hướng dẫn nghiên cứu trong nghiên cứu kế tục. “Hiệu ứng của chất bổ
sung Pycnogenol là tùy chọng tuyệt vời cho nhiều người muốn có sự thay thế về
dược phẩm trị liệu như chất ngăn chặn beta hoặc chất kềm chế ACE. Nghiên cứu
mới này cho thấy Pycnogenol hạn chế việc tiến trình thoái hóa trong các bệnh nhân thiên về sung huyết suy
tim, chẳng hạn như ở người lớn tuổi.”
Nghiên cứu được thực hiện ở University
of Arizona , Tucson . Các con chuột cái lớn tuổi (mười tám
tháng tuổi) được chia ra ngẫu nhiên thành bốn nhóm: nhóm chuột đối chứng, nhóm
chuột chỉ nhận Pycnogenol, nhóm chỉ nhận L-NAME (NG-nitro-Larginine methyl
ester, một chất gây nên nghẹt động mạch và tăng huyết áp) và nhóm chuột nhận cả
Pycnogenol và L-NAME được cung cấp trong vòi nước và nghiên cứu được sự xét
duyệt cho phép bởi Animal Review Committee ở University of Arizona.
Một nhóm chuột bị huyết áp cao bởi L-NAME nhận Pycnogenol
trong nước uống trong bốn tuần lễ và một nhóm khác bị cao huyết áp khi chỉ nhận
L-NAME. Sau năm tuần lễ, tim của nhóm kiểm soát sau đã có sự gia tăng kích cỡ
đáng kể vì kết quả của cao huyết áp. Trong nhóm chữa trị với Pycnogenol, huyết
áp cao và các tham số chức năng tương tự như những gì được tìm thấy trong nhóm
chuột khỏe mạnh với huyết áp khỏe mạnh.
TS. Watson nói rằng, “Nghiên cứu này cung cấp chứng cứ rằng
quản lý đường miệng của Pycnogenol đảo chiều sửa đổi tim cảm ứng bởi L-NAME
bằng cách ngăn chặn việc sản sinh ô-xýt nitric dẫn đến huyết áp cao, và cuối
cùng là bệnh cơ tim [viêm nhiễm cơ tim],”
Sau khi điều tra chi tiết về mô tim, TS. Watson nhận thấy
rằng sự bổ sung Pycnogenol đã nâng cao đáng kể ma trận chất keo liên kết của mô
tim. Trong khi tăng huyết áp mãn tính trong các con chuột đưa đến sự tổn thất
đáng kể sợi keo liên kết, Pycnogenol gia tăng đáng kể sự hiện hữu chất keo, đưa
đến ngăn tim mạnh hơn.
Theo Hội Tim mạch Hoa Kỳ gần năm triệu người Hoa Kỳ đang
sống với bệnh suy tim, và 550.000 ca bệnh mới được chẩn đoán mỗi năm. Tỉ lệ tử
vong về suy tim ảnh hưởng đến 80 phần trăm nam giới và 70 phần trăm phụ nữ
trong vòng mười hai năm mắc bệnh tim mạch. Theo TS. Watson, việc sửa đổi tim
được xem là một mục tiêu chữa trị quan trọng để chiến đấu với bệnh này.
OPC Dập tắt Viêm nhiễm trong Động mạch
Chứng cứ cho thấy viêm nhiễm mãn tính từ sự lây nhiễm vi
khuẩn thông thường gia tăng đáng kể tỉ lệ mắc phải bệnh tim. Hình như khá lạ
lùng nhận thấy rằng sự lây nhiễm thông thường, chẳng hạn như bệnh gôm, lây
nhiễm xoang, viêm tắc phế quản, viêm nhiễm đường niệu, và viêm loét bao tử được
liên kết với bệnh tim, nhưng sự viêm nhiễm cũng kích hoạt tế bào bạch cầu chống
lây nhiễm, dùng gốc tự do tiêu diệt vi khuẩn và các “vật” lạ trong máu. Những
tế bào bạch cầu này di trú trong các động mạch nơi mà một số gốc tự do rò rỉ
khỏi các tế bào, chất ô-xýt hóa LDL và tổn hại lớp bọc các động mạch. Tiến
trình cũng nâng một hợp chất C-reactive protein (CRP) trong máu. Các bác sĩ giờ
đây đang xem xét việc nâng mức độ CRP như là một nhân tố hiểm họa trong bệnh
tim.
Trong một bài báo năm 2001 trong báo chuyên đề của Hội
Tim mạch Hoa Kỳ với nhan đề Circulation,
người ta đã báo cáo rằng các lây nhiễm mãn tính có thể nâng lên gấp ba lần hiểm
nguy xơ vữa động mạch ở người, ngay cả khi họ không có các nhân tố hiểm nguy cổ
điển chẳng hạn như cao huyết áp, béo phì, bệnh tiểu đường, hoặc một cách sống
ít hoạt động.
OPC giúp trong một số cách. Là chất chống Ô-xýt hóa,
chúng trung hòa các gốc tự do được thải ra do viêm nhiễm. TS. Benjamin Lau và
các đồng nghiệp của ông ta tại California’s Loma Linda University cho thấy rằng
OPC trong Pycnogenol giảm thiểu sự sản xuất các phân tử kết dính dạng ô (CAM)
của cơ thể các phân tử gây nên các tế bào viêm nhiễm bám vào thành mạch máu
(Peng và cộng sự, 2000).
Tôi sẽ thảo luận sự viêm nhiễm rất chi tiết trong Chương
8 về viêm khớp và hen suyễn.
OPC Giúp Duy trì Tuần hoàn máu tốt
OPC
giúp duy trì tuần hoàn máu tốt theo một số cách. Tôi đã thảo luận về cách thức
OPC cải thiện tuần hoàn máu thông qua hiệu ứng trên ô-xýt nitric. Một cách thức
khác đó là OPC bảo vệ các tế bào màng bên trong ngăn cách tim và mạch máu chống
lại gốc tự do. Nếu các tế bào này bị tổn hại, cơ thể cố gắng sửa chữa chúng, và
điều này có kết quả trong việc gây nên sẹo và thương tổn giảm thiểu lưu chuyển
máu.
OPC cũng liên kết chất keo và các
sợi mô đàn hồi, là những protein quan trọng trong mạch máu và da. Trong khi
liên kết những protein này, OPC ngăn chặn sự giảm cấp độ bằng các enzim nhất
định. OPC cũng tạo điều kiện cho sự sản xuất “chất cơ sở”, một chất kết dính
gian bào chất có thể làm đầy các khoảng trống giữa các tế bào trong các mạch
máu và kiểm soát lượng chất lỏng và hợp chất có thể trượt đi được. Sự việc này
cũng trao cho các mạch máu sức mạnh.
Một nghiên cứu rất thú vị được thực
hiện tại Bắc Kinh, Trung quốc và được xuất bản trong European Bulletin of Drug Research vào năm 1999. Cuộc nghiên cứu do
TS. Shiwen Wang của Institute of Geriatric Cardiology tại PLA General Hospital
ở Bắc Kinh hướng dẫn (Wang và cộng sự, 1999). Sáu mươi bệnh nhân đau tim được
nghiên cứu trong bốn tuần lễ theo tính cách loại trừ những sai lầm từ
phía người làm thí nghiệm và nhóm được thí nghiệm, kiểm soát bằng thuốc trấn an, thử
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Vi tuần hoàn máu được đo bằng đường kính của các
mao dẫn trong nền nhỏ như ở đầu móng tay. Các bệnh nhân được điều khiển với các
resveratrol về tim mạch, bao gồm hoạt động điện bất thường (dùng điện tâm đồ
ECG), thiếu máu cơ tim (lưu chuyển máu bị giảm thiểu), và các tiểu cầu máu tụ
lại, trong các tham số khác.
Đối với các bệnh
nhân bệnh tim dùng 150 mg OPC có chứa Pycnogenol
ba lần một ngày trong bốn tuần lễ, 54 phần trăm đã được cải thiện lưu chuyển
máu trong vi mạch máu trên 31 phần trăm đối với bệnh nhân chỉ nhận thuốc trấn
an.
Nghiên cứu này kết luận rằng
Pycnogenol kềm chế sự kết dính và tụ hội của các tiểu cầu máu, cải thiện đường
kính của các mao mạch và tràn ngập lưu chuyển máu trong các mao mạch, và ngăn
ngừa đối với một số mở rộng về chứng thiếu máu cục bộ ở cơ tim đối với các bệnh
nhân mắc bệnh về động mạch vành. Không có các biến chứng trầm trọng hoặc nhiễm
độc đối với các cơ quan quan trọng. Những sự khám phá này đề nghị rằng
Pycnogenol có thể được dùng như một tác nhân bảo vệ sức khỏe có ích giúp ngăn
ngừa các tổn hại về tim mạch và sự nghẽn mạch ở động mạch vành.
OPC Đóng góp
và Sức khỏe Tổng thể của Tim và bảo trì
Tôi đã thảo luận về nhiều cách thức
trong đó chỉ nhằm vào một phức hợp của OPC, Pycnogenol là bảo vệ chống lại bệnh
tim. Vào năm 2003 TS. Watson mà nghiên cứu của ông ta tôi thảo luận trong suốt
chương này, đã bình luận về nhiều cách thức mà Pycnogenol bảo vệ chống lại
nhiều bệnh tim mạch trong các bài báo khoa học. TS. Watson kết luận rằng chất
bổ sung có tiềm năng ngăn chặn các nhân tố hiểm hoạ bệnh tim mạch chính. Bài
báo được phát hành trong Evidence-Based
Integrative Medicine, cung cấp tổng quan các nghiên cứu lâm sàng mô tả về các
lợi ích về sức khỏe của trái tim của Pycnogenol, bao gồm sự giảm thiểu các hoạt
động của tiểu cầu, giảm thiểu huyết áp cao, thư giản sự xiết nghẽn động mạch,
và cải thiện tuần hoàn máu.
TS. Watson đã nói “Tôi đã làm việc
rất nhiều với Pycnogenol trong thập niên trước, nghiên cứu và thực hiện nghiên
cứu về chất chống ô-xýt đầy sức mạnh này. Tôi nhận thấy rằng thật sự là rất hấp
dẫn rằng là các nghiên cứu được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau
khắp thế giới có những kết quả tương tự như của tôi, ủng hộ quan điểm rằng sự
bổ sung chất Pycnogenol – với liều lượng từ 25 mg đến 200 mg [mỗi ngày] – giúp
chống lại các nhân tố nguy hiểm về tim mạch và đóng góp tổng thể về sức khỏe và
bảo dưỡng cho trái tim,”
Theo bài báo “Pycnogenol và Sức khỏe
Tim mạch” các nhà khoa học Anh quốc đã đưa ra đề nghị rằng bổ sung cho các cá
nhân từ năm mươi lăm tuổi trở lên với thuốc tổng hợp theo hình thức thuốc viên
riêng lẻ. Quan điểm về “Thuốc đa chất” nguyên gốc này có thể giảm thiểu các
nhân tố nguy hiểm về tim mạch, bao gồm hạ thấp tỉ lệ cholesterol (LDL) xấu
và huyết áp, giảm thiểu hoạt động của
các tiểu cầu, và cải thiện tuần hoàn.
TS.
Watson bình luận, “Trong khi chúng tôi tìm thấy quan điểm chống lại ‘thuốc đa
chất’ này, điều quan trọng đối với chúng
tôi là nhận thức về sức khỏe tổng thể tim mạch được duy trì qua các phưong pháp
dinh dưỡng. Cho đến nay, trên mười nghiên cứu lâm sàng được xuất bản về việc
Pycnogenol chứng minh được ích lợi đáng kể của nó đối với sức khỏe trái tim và
tuần hoàn máu. Đa phần nghiên cứu được thực hiện cung cấp chứng cứ vững vàng
rằng chất chống ô-xýt hóa này rất mạnh trong sự giảm thiểu viêm nhiễm trong cơ
thể, gia cố hệ thống mạch máu, giảm thiểu áp huyết cao và cholesterol, và chống
lại các hiệu ứng của việc hút thuốc, stress, và các nhân tố hiểm nguy môi
trường lên tim,”
Xem xét tất cả các thành phần hiệu ứng đồng vận với Pycnogenol,
OPC cung cấp sự bảo vệ bền vững và đáng kể chống lại những hiểm hoạ chính về
bệnh tim. Chúng ta hãy nhìn một số nghiên cứu liên quan đến chiết suất hạt nho,
một phức hợp của OPC.
Chiết suất từ Hạt nho và Sức khỏe Trái
Tim
Trong
một cuộc điều tra được xuất bản năm 1993 trên Journal of the American College of Cardiology, các TS. D.T. và S.D.
Nash của State University of New York Health Science Center ở Syracuse và đồng
nghiệp của họ cho thấy trong một nhóm mẫu gồm năm mươi sáu nam và nữ sử dụng
1,5 oz (43 g) dầu hạt nho mỗi ngày – một khối lượng mà một người có thể dùng để
nấu nương – chất dầu hạt nho có khả năng tăng mức độ HDL khỏe mạnh lên cho đến
13 phần trăm và giảm mức độ có hại của LDL xuống 7 phần trăm chỉ trong ba tuần
lễ. Tỉ số tổng cholesterol/ HDL của các đối tượng giảm xuống 15,6 phần trăm và tỉ
số tổng LDL/ HDL giảm 15,3 phần trăm, là đáng kể cho những ai đang chịu hiểm
nguy về các cơn đau tim.
TS. Yamakoshi và đồng nghiệp chứng
minh rằng chiết xuất hạt nho ngăn ngừa tạo mảng bám đối với LDL trong phòng thí
nghiệm động vật (Atherosclerosis, 1999). Chiết xuất hạt nho hạ thấp mức độ
ô-xýt hóa của máu đến 90 phần trăm và như thế ngăn ngừa sự ô-xýt hóa của LDL. Trong
nghiên cức, các con thỏ được nuôi với chế độ ăn uống giàu cholesterol có dùng
và không dùng chiết xuất hạt nho. Mặc dù không có sự thay đổi về mức độ
cholesterol trong các con thỏ, những con nhận thêm chiết xuất hạt nho cho thấy
sự giảm đi sự gây tổn hại của cholesteryl ester hydroperoxide và aortic
malodialdehyde, hai chất gây tổn hại LDL và có thể dẫn đến chứng xơ vữa động
mạch. Các phân tích cho thấy một sự giảm thiểu ở LDL ô-xýt hóa.
Trong một thí nghiệm khác dùng huyết
tương người, chiết xuất hạt nho được thêm vào huyết tương cũng kềm chế sự ô-xýt
hóa của LDL, đưa ra ích lợi khả dĩ trong sự ngăn ngừa xơ vữa động mạch.
Rượu Vang đỏ và Sức khỏe Trái Tim
Một
số nghiên cứu về dịch tễ học và có kiểm soát đối chứng cho thấy rằng các cá
nhân tiêu thụ một hay hai ly rượu vang mỗi ngày có cơ may giảm thiểu nguy cơ
bệnh tim mạch. Một phức hợp quan trọng thứ ba của OPC và các polyphenol là
chiết xuất rượu vang đỏ.
TS. M. J. Halpern và đồng nghiệp tại
Superior Institute for Health Sciences ở Lisbon, Bồ Đào Nha nhận thấy rằng
chiết xuất rượu vang đỏ giảm thiểu sự hợp quần lại của các tiểu cầu (Journal of International Medical Research,
1998).
Vào năm 2000, TS. L. Fremont và đồng
nghiệp tại Laboratoire de Nutrition et Sécurité Alimentaire, ở Jouy-en-Josas,
Pháp, nhận thấy rằng rượu vang đỏ bảo vệ axít béo polyunstaturated trong huyết
tương và màng. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, “trong con người, chiết xuất
rượu vang đỏ có ích lợi bằng cách giảm thiểu các hiệu ứng độc hại của chế độ ăn
uống với cholesterol quá mức” (Lipids,
2000).
Vào năm 2002, TS. C. Auger và đồng
nghiệp tại Unité Nutrition, Laboratoire Génie Biologique et Sciencea des
Aliments, Université Montpellier, Pháp xuất bản một nghiên cứu trong Journal of Nutrition về chiết xuất rượu
vang đỏ trong huyết tương lipoprotein và các chất xơ vữa động mạch trong chuột
đồng. Huyết tương cholesterol các triglycerine đậm đặc được hạ xuống trong
những nhóm tiêu thụ chiết xuất rượu vang đỏ so sánh với nhóm kiểm tra đối chiếu
dùng thuốc trấn an. Có sự giảm đi đáng kể trong sự đậm đặc của huyết tương
apoliprotein (Apo ) B, một protein gây hại
trong LDL. Hoạt động của enzim chất chống ô-xýt hóa glutathione peroxidase tăng
lên 67 phần trăm trong nhóm nhận chiết xuất rượu vang đỏ. Chất béo tạo thành
vỉa trong khu vực động mạch chủ giảm thiểu đáng kể đến 32 phần trăm trong nhóm
tiêu thụ chiết xuất rượu vang đỏ so sánh với nhóm kiểm tra đối chiếu dùng thuốc
trấn an. Các nhà bghiên cứu kết luận, “dùng vào bụng lâu ngày chiết xuất rượu
vang đỏ ngăn ngừa sự phát triển chất xơ vữa động mạch thông qua một số cơ chế.”
Vào năm 2006, resveratrol của chất
chống ô-xýt hóa rượu vang đỏ được tìm thấy là bảo vệ tim mạch. Trong một nghiên
cứu dùng chuột, sự quản lý resveratrol cho thấy có hiệu ứng bảo vệ tim mạch đột
ngột (Vascul Pharmacol, 2006). Các
kết quả cho thấy rằng chuột được cho resveratrol trước khi cơn đau tim được qui
cho thí nghiệm được tìm thấy là có sự phục hồi chức năng tâm thất hậu thiếu máu cục bộ khá hơn đáng kể, cơn đau
tim ít trầm trọng, và sự phá hủy mô tim mạch ít hơn, cũng như là gia tăng ô-xýt
nitric và giảm đi của malonaldehyde trong bắp thịt tim.
Vào cùng năm đó, một nghiên cứu dịch
tễ học của Hoa Kỳ đề nghị rằng chế độ ăn uống giàu resveratrol có liên quan đến
việc giảm đi nguy cơ với bệnh ở động mạch vành. Các nhà nghiên cứu do TS. A.
Csiszar hướng dẫn ở New York
Medical College
nghiên cứu hiệu ứng resveratrol bởi vì sự kích hoạt TNF-alphainduced
endothelial và viêm nhiểm mạch máu đóng một vai trò quí giá trong việc lão hóa
mạch máu và các tích tụ mảng bám lên
thành các mạch máu. TNF-alpha viết tắt của nhân tố u hoại tử alpha, là một
protein được sản sinh tự nhiên bởi cơ thể huy động các tế bào bạch cầu để chống lại viêm
nhiễm và những kẻ xâm lăng khác. Nếu cơ thể không thải được TNF-alpha, nó được
tích chứa, có thể gây nên viêm nhiễm nặng, đau đớn, tổn hại mô trong khắp cơ
thể.
Các nhà nghiên cứu đánh giá là dù
cho resveratrol có kiềm chế TNF-alpha-gây nên tín hiệu truyền dẫn tình trạng hay
không đối với các tế bào màng bên trong động mạch vành của con người (HCAE). Họ
kết luận, “Chúng tôi nhận thấy rằng TNF-alpha gia tăng đáng kể tính kết dính
của các đơn bào THP-1 (một tuyến tế bào của đại thực bào của con người) đối với
HCAEs, một hiệu ứng có thể được kiềm chế trước với reseratrol và pyrrolidine
dithiocarbamate, “một chất chống ô-xýt hoá và chất kềm chế tổng hợp của hạt
nhân nhân tố kappa B (NF-kB), một tế bào miễn dịch “cò súng” cho sự viêm nhiễm.
Họ ghi nhận rằng “Reseratrol cũng ngăn chặn H2O2-gây nên
tính kết dính của các đơn bào,” Các nhà nghiên cứu tuyên bố, “Trong TNF-alpha
được trị liệu với HCAEs, reseratrol gây suy giảm đáng kể sự trục xuất các nhân
tố gây nên sự viêm nhiễm NF-kappa B-lệ thuộc …”
“Như thế reseratrol đậm đặc liên
quan đến dinh dưỡng kềm chế TNF-alpha-gây nên sự kích hoạt NF-kappa B và trục
xuất viêm nhiễm gien và gây suy giảm tính kết dính của các đơn bào đối với các
HCAE,” các nhà nghiên cứu kết luận, “Chúng tôi đề nghị rằng những hoạt động
chống viêm nhiễm này của reseratrol là có trách nhiệm, ít nhất là một phần, về
các hiệu ứng bảo vệ tim mạch của nó.” TS. Csiszar và đồng nghiệp của ông
ta đã xuất bản nghiên cứu của họ trong Aqmerican Journal of Physiology – Heart and
Cieculatory Physiology.
Là kết quả của những nghiên cứu này
và các nghiên cứu khác, có sự gia tăng chứng cứ khoa học cho thấy rằng OPC –
đặc biệt là những cái đượcphát hiện trong chiết xuất vỏ cây thông miền biển của
Pháp, chiết xuất hạt nho, và chiết xuất rượu vang đỏ - mỗi loại bảo vệ chống
lại bệnh tim mạch. Tuy nhiên, khi được dùng với hợp chất chúng trở nên đồng
vận, và như thế hiệu quả hơn và mạnh hơn khi từng loại được dùng riêng lẻ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét