Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Tham khảo: Chất chống Oxy hóa


MỘT TRONG NHỮNG CHẤT CHỐNG OXY HÓA TỰ NHIÊN ĐÁNG GHI NHẬN NHẤT ĐÃ TỪNG ĐƯỢC KHÁM PHÁ








Sống tốt hơn, lâu hơn

Khoa học ẩn chứa trong các Lợi ích về Sức khỏe đáng Kinh ngạc của OPC (Oligomeric Proanthocyanidin)

Các phát hiện nghiên cứu khắp nơi trên thế giới giải thích về cách thức hoạt động của chất chống lại bệnh tật với gốc tự do được nghiên cứu chuyên sâu.

















TIẾN SĨ RICHARD A. PASSWATER
Giới thiệu

Cuốn sách này sẽ giúp các bạn khỏe mạnh hơn và sống tốt hơn, lâu hơn. Hầu hết mọi người, kể cả nhiều bác sĩ, cũng chưa hiểu rằng  hầu hết các chứng bệnh không do vi trùng gây nên – các chứng bệnh xuất hiện khi họ lớn tuổi – chúng có cùng nguyên nhân chung, và đó không phải là thời gian. Thay vì như thế, đó là gốc tự do và thật thú vị biết bao để nhận ra rằng thật sự có một phương cách tự nhiên, đơn giản, an toàn để ngăn chặn nguyên nhân duy nhất đó và ngăn ngừa sự phát triển của hơn sáu mươi chứng bệnh phát sinh từ nó mà ra. Tôi và hàng trăm khoa học gia khác đã phát hiện rằng các gốc tự do cá thể được ngăn chặn bởi các họ của các chất dinh dưỡng tự nhiên có trong các chất bổ sung OPC trong chế độ ăn uống, mà trước đây các họ này không được chú ý đến nhiều.   

Các gốc tự do có liên quan đến các chứng bệnh và các rối loạn thông thường có liên kết với tuổi già, chẳng hạn như chứng viêm khớp, ung thư, hoặc bệnh tim mạch, và các bạn có thể giảm thiểu sự nguy hiểm của chứng bệnh có liên quan đến sự lão hóa với sự bổ sung OPC. Vâng, không còn nghi ngờ gì về điều này đối với các khoa học gia nghiên cứu trong các lĩnh vực bệnh lý học về các gốc tự do và lão hóa, nhưng vì ngành khoa học này vẫn còn mới đối với mọi người trong việc đào tạo các thông tin mới trong lĩnh vực lâm sàng, nhiều chuyên gia về sức khỏe vẫn còn nghĩ rằng những chứng bệnh này hoặc là kết quả của thời gian, tuổi tác, hoặc do các nguyên nhân khác gây nên. Phải mất nhiều năm và thường là nhiều thập kỉ để các thông tin này hội nhập vào lĩnh vực lâm sàng. 

Sự kiện là nhiều chứng bệnh có thể được gây ra bởi một mầm bệnh không gì là khó hiểu trong thời đại hậu-Pasteur. Khi Pasteur cố gắng thuyết phục các khoa học gia và thầy thuốc là nhiều chứng bệnh do mầm bệnh gây nên, ông ta đã bị nhạo báng và khinh thường. Làm thế nào để vi trùng gây nên bệnh tiêu chảy và sốt rét gây nên viêm họng? Ngày nay sự thật là vi trùng là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh được hoàn toàn chấp nhận, ngay cả một mầm bệnh khác (vi trùng hoặc vi khuẩn) gây nên các chứng bệnh tương ứng khác nhau. Kiến thức chính yếu về các nguyên nhân của bệnh tật giờ đây được mở rộng, và người ta hiểu rằng qua thời gian gia đình gốc tự do này của chính các phản ứng hóa học  bao hàm nhiều chứng bệnh nhẹ và các bệnh gây chết người.
Bạn có tự hỏi bệnh ung thư, bệnh tim mạch, và chứng viêm khớp có cùng nguyên nhân này không? Xét cho cùng, theo sự hiểu biết thông thường, bệnh tim mạch do cholesterol (chất béo gây xơ cứng động mạch), bệnh ung thư do gien, chứng viêm khớp do hao mòn hư hỏng gây nên. Cuốn sách này sẽ giới thiệu cho bạn các chứng cứ nổi trội chứng minh, nói khác đi – chứng cứ được chấp nhận rộng rãi bởi nhiều nhà khoa học nghiên cứu tiến trình này và được chấp nhận bởi nhiều thầy thuốc những người dùng thông tin này để cải thiện sức khỏe, tuổi thọ, và chất lượng sống cho hàng ngàn bệnh nhân của họ. Tuy nhiên, xu hướng chủ đạo chỉ mới bắt đầu hiểu về tiến trình này, và hàng triệu người ngoài đời cần hiểu về thông tin này.
Chỉ cần theo dõi về tiến trình phát hiện ra những khám phá này, các bạn sẽ có thể hiểu về nguyên nhân và biết cách để ngăn ngừa hoặc là làm chậm lại tiến trình một cách đáng kể. Câu chuyện bắt đầu với một số khám phá quan trọng nhưng chưa gây ấn tượng sâu sắc và sau đó là những khám phá có ích và thú vị nhất được phát hiện khi ta tiếp tục nghiên cứu. Nét đẹp ở đây là chúng ta có thể vận dụng những khám phá này vào thực tiễn cuộc sống ngay tức thì.
Tin tức tốt lành tiếp tục đến. Các chất dinh dưỡng vừa được phát hiện không những bảo vệ ta khỏi sự xảy ra của các chứng bệnh này, chúng còn có thể giúp cho những ai đã bị bệnh và đang có sự rối loạn.
Tôi muốn giới thiệu cùng các bạn các tiện ích về sức khỏe của họ chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa đa năng oligometric proanthocyanidin thuộc họ bioflavonoid được gọi là OPC. Qua nhiều năm nghiên cứu chứng tỏ rằng chúng có thể ngăn ngừa và trị được nhiều chứng bệnh. Trong những chương sau, tôi sẽ thảo luận về lĩnh vực bệnh lý học của các gốc tự do và viết rất tỉ mỉ các nghiên cứu về các chứng bệnh đặc biệt.
Bệnh lý học về gốc tự do là nghiên cứu về các nhóm phản ứng hoá học được gọi là “các gốc tự do” tham gia như thế nào vào những chứng bệnh gây tàn tật hoặc chết người. Các gốc tự do và  và họ hàng phản ứng hóa học tương cận của chúng vừa được sản sinh trong cơ thể như là một phần tiến trình cuộc sống và phần khác là các sản phẩm phụ của các chất ô nhiễm và các nhân tố môi trường, chẳng hạn như sự phát xạ tự nhiên, bao gồm ánh sáng mặt trời. Tôi sẽ thảo luận các gốc tự do và tác hại chúng gây nên trong chương đầu tiên, nhưng bây giờ, tất cả những gì các bạn cần biết là các chất hóa học có thể gây hại cho các thành phần chức năng của cơ thể và gây nên bệnh tật và sự rối loạn. Cũng rất có ích cho chúng ta để hiểu biết về các gốc tự do độc hại này có thể được kiểm soát và giảm thiểu đến mức tối đa bằng với các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa nhất định nào đó.
Giờ đây, cộng đồng khoa học quan tâm một cách đặc biệt về gia đình OPC thuộc về các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa rất mạnh nhất định nào đó. Những chất dinh dưỡng luôn luôn được cung cấp trong thực phẩm với số lượng nhỏ, nhưng cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu tường tận. Một khi con người nhận ra sức mạnh chống ô-xýt hóa của chúng, sự quan tâm khoa học về chúng sẽ gia tăng nhanh chóng.
OPC có một số hoạt động then chốt. Chúng có thể:
  • Gia tăng sự miễn dịch;
  • Làm dịu đi bệnh sốt mùa hè và triệu chứng dị ứng;
  • Giúp cho da mịn và linh hoạt trẻ trung;
  • Giúp chống lại biến chứng của bệnh tiểu đường, chẳng hạn như bệnh màng lưới;
  • Giúp thư giãn mạch máu, do đó cải thiện tuần hoàn máu và giúp bình thường huyết áp;
  • Cải thiện tuần hoàn và giúp tế bào máu trơn để chúng không tạo thành cục nghẽn máu gây nên cơn đau tim;
  • Cải thiện khả năng nhận biết và duy trì trí nhớ;
  • Bảo vệ chống lại các phân tử gốc tự do nguy hiểm, những chất đẩy nhanh tiến trình lão hóa và trở thành ung thư, bệnh tim mạch, và trên sáu mươi chứng bệnh khác;
  • Giảm thiểu chứng viêm và giúp phục hồi và duy trì tính linh hoại của các khớp nối;
  • Giảm thiểu các hiệu ứng của “stress”;
  • Giảm thiểu sự nguy hiểm của bệnh đục nhân mắt;
  • Củng cố thành mạch máu, bảo vệ lớp lót mạch máu, và giảm thiểu chứng phù (sự sưng lên).

Các khám phá của các nhà khoa học trong lĩnh vực này rất quan trọng đối với sức khỏe, sự sung mãn, và tuổi thọ của các bạn. Tuy nhiên, phải mất nhiều thời gian để ứng dụng được thông tin của chúng vào thực tiển để giúp ích cho con người. Tôi bị thu hút vào bệnh lý học gốc tự do từ năm 1960 và tôi cố gắng đẩy nhanh tiến trình chuyển thông tin từ tài liệu khoa học cho công chúng bằng cách viết trên bốn mươi cuốn sách cho công chúng về cách thức các chất dinh dưỡng có thể tạo nên lợi ích cho họ.
Các khoa học gia hưởng lợi rất ít trong việc cống hiến cuộc sống chuyên môn của họ đối với việc nghiên cứu cách thức mà các chất dinh dưỡng nhất định nào đó có thể giúp con người có được chất lượng tốt hơn nếu sự nghiên cứu không đạt được sự ứng dụng chúng vào việc sử dụng thực tiển. Sự quan trọng đối với các bạn đó là có thể sử dụng các thông tin bây giờ, hơn là phải chờ đợi hàng thập kỉ để chúng có thể nổi bật lên từ tài liệu. Có rất ít bằng công nhận đặc quyền sản xuất các chất dinh dưỡng, cho nên các công ty dược phẩm lệ thuộc vào bằng công nhận đặc quyền sản xuất bảo vệ các sản phẩm của họ để bù lại chi phí về nghiên cứu và sự đào tạo về sản phẩm không tiêu xài bất kỳ ngân qũy nào để đào tạo chuyên môn y học và công chúng về phúc lợi các chất dinh dưỡng chưa được bảo vệ với bằng công nhận đặc quyền sản xuất.
Để chống lại sự việc này, tôi sẽ giới thiệu nghiên cứu gần đây của tôi, và của bạn bè và đồng nghiệp của tôi, nó chứa đựng nhiều thông tin mới để các bạn đánh giá xem là chúng có thể tạo nên những gì tốt nhất. Tôi cũng sẽ duyệt lại một số nghiên cứu trước đây mà chúng được biết và chấp nhận rộng rãi. Tôi nhận ra rằng nếu tôi xuất bản những thông tin quan trọng về sức khỏe theo định dạng sách thông dụng, tôi có thể đem các tiện ích của sự nghiên cứu của tôi nhanh hơn so với việc phải tranh đấu trong trận chiến vất vả chống lại những hiểu biết của khoa học hiện nay. Mặc dù có nhiều thầy thuốc đã ứng dụng những khám phá khoa học vào thực tiển và có thể xác minh kết quả trên cơ bản lâm sàng – bao gồm các chuyên gia về lĩnh vực chống lão hóa chẳng hạn như các bác sĩ Ronald Klatz và Robert Goldman, và nhiều thành viên của American College for the Advancement in Medicine (ACAM) và American Association of Anti-Aging Medicine (A4M) – với thông tin trong cuốn sách này, các bạn có thể tự mình học cách thức áp dụng những khám phá này dùng để cải thiện sức khỏe của các bạn.    



CHƯƠNG 1
CHỦ ĐỀ TRANH LUẬN VỀ SỨC KHỎE:
OPC CHỐNG LẠI BỆNH TẬT GÂY RA BỞI CÁC GỐC TỰ DO

Các bạn đặt câu hỏi là bằng cách nào OPC giúp bảo vệ chống lại quá nhiều bệnh tật và các rối loạn? Các bạn nên hoài nghi về những tuyên bố với phạm vi rộng như thế về sức khỏe. May mắn thay, có sự giải thích khoa học và chứng minh lâm sàng cho những tuyên bố về OPC. Thông tin các bạn sắp đọc vẫn còn quá mới đối với nhiều chuyên gia về sức khỏe đã học qua những kênh giáo dục truyền thống của họ. Các thầy thuốc đang hành nghề thông thường không thực hành nghiên cứu về lĩnh vực hoá-sinh hoặc dinh dưỡng, và sau khi họ hoàn tất phần đào tạo sơ cấp, họ chỉ tiếp tục học theo các kênh chuyên ngành của họ. Các ngoại lệ là các thầy thuốc và những nhà cung ứng sự chăm sóc về sức khỏe là những người chuyên môn về y khoa bổ sung.
Các thông tin được trình bày trong cuốn sách này là các nghiên cứu mới nhất về OPC. Trước khi bắt đầu, tôi tin rằng thật là quan trọng đối với các bạn có thể biết về thông tin cần thiết của tôi trong nghiên cứu về chống ô-xýt hóa, vì nó thể hiện công việc chuyên môn suốt đời của tôi. Tôi bắt đầu các thực nghiệm trong phòng thí nghiệm về các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa từ năm 1960, và là nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu vai trò của các hợp chất chống ô-xýt hóa đối với sức khỏe và tuổi thọ. Nghiên cứu này đưa đến sự khám phá về cách thức các hợp chất nhất định của các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa có tính hiệp lực, có nghĩa là khi các chất chống ô-xýt hóa cùng hoạt động, chúng có hiệu ứng lớn hơn nhiều so với các hiệu ứng riêng lẻ của từng chất, và có thể làm chậm đi quá trình lão hóa và giảm đi nguy cơ của nhiều loại bệnh. Vào năm 1969, tôi đã đăng ký các bằng sáng chế về tiến trình này.
Vào năm 1970, tại Toronto, tôi giới thiệu chứng cứ tại Hội nghị Khoa học Thường niên của Hội Nghiên cứu tuổi già và quá trình già (Gerontological Society) rằng các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa cung cấp một phương tiện thực tiển gia tăng tuổi thọ cho con người. Tôi là người đầu tiên chứng tỏ rằng với liều lượng nhất định và các hợp chất các chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa có thể gia tăng tuổi thọ cho các động vật được thí nghiệm (Chemical & Engineering News, 1970). Những chi tiết thêm vào của nghiên cứu của tôi được xuất bản trong American Laboratory and International Laboratory vào năm 1971.
Vào cùng thời điểm, các báo cáo về nghiên cứu của tôi bắt đầu xuất bản ra đại chúng. Năm 1970, Ladies Home Journal đã đăng tải bài báo của Patrick McGrady, Jr. về nghiên cứu của tôi. Một bài báo khác xuất hiện vào năm 1971 trên tạp chi Prevention. Lần đầu tiên các thuật ngữ “antioxidant nutrient = chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa” và “free radical = gốc tự do” xuất hiện trên báo chí nằm trong những bài báo này.
Cuối cùng tôi nhận được bằng sáng chế đầu tiên trong hàng loạt bằng sáng chế về hiện tượng hiệp lực chất chống ô-xýt hóa (U.S. Patent No. 6.090.414). Tôi muốn đưa những thông tin này vào ứng dụng để giúp mọi người ngay tức thì cho nên tôi viết Supernutrition: MegaVitamin Revolution (Dial Press, 1975), và thuyết giảng tại American College for the Advancement in Medicine (ACAM) và tại các tổ chức y tế quan tâm đến dinh dưỡng cũng như y học. Hàng ngàn các thầy thuốc đã áp dụng các khám phá của tôi về các chất chống ô-xýt hóa với bệnh nhân của họ. Nhưng các khám phá vẫn tiếp tục, và giờ đây vẫn có thông tin mới để tường trình. Điều quan trọng là các bạn nên biết về những khám phá đầu tiên này để các bạn có thể hiểu về cách thức mối quan hệ bệnh tật giữa các gốc tự do và các chất chống ô-xýt hóa hoạt động như thế nào. Nhưng đây là những khám phá mới nhất về các chất chống ô-xýt hóa mạnh mẽ và đa năng của lớp oligomeric proanthocyanidin thuộc về bioflavonoid được gọi là OPC là quan trọng nhất, vì chúng rất hiệu quả.

Những khám phá đầu tiên về các Gốc Tự do và các Chất Chống ô-xýt hóa             
Bây giờ hãy nhìn xem sự bổ sung từ chế độ ẩm thực có thể giúp bảo vệ chống lại nhiều chứng bệnh và các rối loạn. Trong khi câu trả lời nằm ở sự kiện là chỉ có một liên kết chung duy nhất các bệnh tật, thật ra có nhiều liên kết giữa chúng với nhau.
            Một phần của câu trả lời đó là OPC không chỉ là chất dinh dưỡng thôi đâu. Chúng là một nhóm chất dinh dưỡng chống ô-xýt hóa rất mạnh thuộc cùng một ho gia đình, mỗi chất với những hoạt động khác nhau riêng của mình. Hầu hết các hợp chất hoạt động chủ yếu là chất chống ô-xýt hóa, trong khi các hợp chất khác ngăn chặn hoạt động của các hợp chất không mong muốn có trong cơ thể. Điều này sẽ được giải thích sau.
            Phần khác của câu trả lời đó là một số chất dinh dưỡng, chẵng hạn như chất chống ô-xýt hóa, ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể, và như thế là các nhân tố trong việc ngăn ngừa nhiều bệnh tật. Chất chống ô-xýt hóa tham gia vào việc giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh với hơn sáu mươi chứng bệnh.       
Như đã được đề cập trong Phần Giới thiệu, OPC có một số các hành động then chốt. Năm hành động quan trọng của OPC là khả năng của chúng:
  1. Chấm dứt các gốc tự do và bảo vệ các tế bào;
  2. Nâng cao chức năng miễn dịch và gia tăng việc bảo vệ chống lại nhiều sự lây bệnh;
  3. Kết hợp chất tạo keo, chất đạm của da và elastin để bảo vệ mô và hàn các mao mạch rò rỉ;
  4. Cải thiện chức năng hoạt động của các mạch máu từ các động mạch lớn dẫn đến các mao mạch vi tuần hoàn; và      
  5. Ức chế các tế bào máu nhỏ dính lại với nhau, vì thế ngăn ngừa các vấn đề về tuần hoàn từ bệnh tim mạch đến đột quị đến tụ huyết khối nhiều trong tĩnh mạch.

      Để hiểu đầy đủ chỉ riêng về lợi ích sức khỏe chứa đựng trong OPC, cần thiết phải bắt đầu câu chuyện của những khám phá này với chút ít nền tảng về các gốc tự do. Các gốc tự do là các phân tử có hại hủy hoại thân thể. Như sẽ được giải thích ở các chương sau, các gốc tự do bao hàm các chứng bệnh về tim và mạch máu và các chứng bệnh suy thoái kinh niên. Chúng đẩy nhanh tiến trình lão hóa, và kết quả là, gián tiếp liên quan đến việc giảm đi sự phòng vệ chống lại các mầm bệnh. Bệnh viêm khớp, bệnh Alzheimer, và Parkinson cũng liên kết đến việc hủy hoại bởi các gốc tự do. Các nghiên cứu chứng tỏ rằng các chất chống ô-xýt hóa giảm thiểu nguy cơ của những chứng bệnh này.
      Các bạn có thể nghĩ các gốc tự do như những tên khủng bố sinh học. Quá đơn giản, chúng có thể xấu với sức khỏe của các bạn. Trong hóa học, các nguyên tử thường được phát hiện tạo thành nhóm với nhau được gọi là “gốc”. Nhóm này hoặc gốc thường ở lại với nhau trong suốt phản ứng hóa học và có thể được chuyển từ phân tử này đến phân tử kia.
      Đôi khi trong suốt các phản ứng hóa học năng lượng rất cao, các gốc có thể có một nguyên tử bị lấy mất đi gây cho nhóm tạm thời tách tự do ra khỏi phân tử. Khi sự việc này xảy ra, chúng ta gọi nó là “gốc tự do”. Trong sự phân mảnh không bền, năng lượng cao này được tự do, các lực năng lượng của nó có thể hấp dẫn một nguyên tử từ các phân tử khác. Một gốc tự do có thể kép một nguyên tử từ hầu hết các hợp chất sinh học, như thế sẽ phục hồi lượng nguyên tử của nó, nhưng gây nên gây nên cho hợp chất khác mất đi một nguyên tử cho nó trở thành một gốc tự do.
      Một số người đang hành nghề chăm sóc sức khỏe lầm các gốc tự do với i-ông. Một i-ông đơn giản là một phân mảnh phân tử mang điện tích – hoặc là dương hoặc là âm. Một gốc tự do có thể mang điện tích hoặc là khôbgĐặc tính phân biệt của một gốc tự do đó là nó chứa đưng  một hay nhiều điện tử “không có đôi” hoặc là “cô độc”. Thật là không quan trọng đối với các bạn đểu biết về sự khác biệt, nhưng các khoa học gia và các chuyên gia về sức khỏe thì nên biết. Có thể họ ước muốn thảo luận sự mô tả đầy đủ hơnvề các gốc tự do và các loại phản ứng ở côn trùng (ngược lại).
      Có một số các gốc tự do xuất hiện trong cơ thể mà ta biết được, số thông dụng nhất là các gốc tự do xuất phát từ ô-xy, chẳng hạn như các gốc tự do peoxit và hydroxyl, hypoclorite, nước oxy già, và các loại peroxyt lipid khác nhau. Chúng có thể được tạo thành từ việc thải ra các độc tố thiên nhiên như ô nhiễm công nghiệp, các hóa chất từ gia đình, và khói thuốc lá, từ các hóa chất tổng hợp được thêm vào thức ăn, thực phẩm của chúng ta, và từ các sự trao đổi chất hàng ngày trong cơ thể để tạo nên năng lượng.
      Phản ứng gốc tự do này có thể kéo dài mãi cho đến khi phân tử sinh học then chốt trở nên gây tổn hại thường trực. Các nhà khoa học ước tính mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta (và chúng ta có hàng tỉ tế bào) chịu đựng “sự tấn công” của 10.000 gốc tự do mỗi ngày. Số lượng tổn hại tùy thuộc vào sự bảo vệ như thế nào của các chất chống ô-xýt hóa. Cấp độ các chất chống ô-xýt hóa càng cao, số lượng bảo vệ càng lớn.
Sự tổn hại gây ra bởi gốc tự do
Các gốc tự do có thể gây tổn hại cho chất đạm của cơ thể và màng của tế bào, làm yếu đi các phòng vệ tự nhiên của tế bào, phá vỡ ADN của tế bào, và các chức năng cần thiết của
DIỄN GIẢI VỀ CÁC GỐC TỰ DO
CHO CÁC NHÀ KHOA HỌC VÀ
NGƯỜI TÒ MÒ VỀ KHOA HỌC

Các gốc tự do là các loại hóa chất có hại thường được sản sinh trong cơ thể như là sản phẩm phụ của việc dùng oxy sản sinh ra năng lượng. Cơ thể tạo nên các gốc tự do nhất định có mục đích nhằm đáp ứng những mục tiêu đặc biệt, nhưng hầu hết các gốc tự dotrong cơ thể được hình thành một cách không chủ tâm và là các tác nhân không mong đợi có thể gây tổn hại dẫn đến bệnh viêm khớp, ung thư, bệnh tim mạch, tăng tốc quá trình lão hóa, và các bệnh và rối loạn liên quan đến tuổi già.
            Đơn giản, gốc tự do là là phần tích cực của phân tử. Diễn giải đơn giản khác đúng với đa số các tình huống hóa sinh đó là một gốc tự do đơn thuần là loại hóa chất với lượng điện tử là số lẻ. Tất cả các loại hóa chất với lượng điện tử là số lẻ là các gốc tự do, nhưng có các loại hóa chất với lượng điện tử là số chẵn cũng là gốc tự do, mặc dù là hiếm trong lĩnh vực hóa sinh. Một diễn giải tốt hơn đó là một gốc tự do là một phân tử hay nguyên tử chứa đưng một hoặc nhiều hơn một điện tử hoặc các điện tử không có đôi. Như được giải thích trong bài đọc, ta không nên lầm với ion, là loại hóa chất không cân bằng giữa số điện tử mang điện tích âm và số proton mang điện tích dương. Các gốc tự docó thể là các là điện tử trung tính hoạc mang điện tích. Nếu một gốc tự do mang điện tích, nó được gọi là “gốc ion”. Sự quan tâm lớn về gốc tự do là về từ tính hon là điện tích.
            Các nguyên tử được kết lại thành nhóm nhiều hay ít như là một đơn vị trong phân tử có thể được gọi là một gốc. Nhóm hay “gốc” này thường tụ hội với nhau trong suốt   
 
 




qui trình phản ứng hóa học và có thể được chuyển từ phân tử này sang phân tử khác. Tuy nhiên, khi nói đến “các gốc tự do”, gốc tự do đơn giản đề cập đến phần còn lại của một nguyên tử hay một phân tử sau khi một điện tử đã được tách ra khỏi cặp điện tử trong một qũy đạo điện tử.
            Điện tử quanh nhân của một nguyên tử hay một phân tử theo các đường tương tự cách thức các hành tinh di chuyển chung quanh mặt trời. Các nguyên tử và phân tử có nhiều lớp khác nhau hoặc các vỏ của điện tử di chuyển quanh qũy đạo của một nhân. Các lớp này và các qũy đạo được xác định bởi cấu trúc của nguyên tử hoặc các phân tử. Các lớp điện tử của nguyên tử bảo hòa chứa hai, tám, mười tám, và ba mươi hai điện tử, và các qũy đạo điện tử lưu giữ tối đa hai điện tử.
            Di chuyển giửa những lớp điện tử nguyên tử hoặc điện tử phân tử là một hay nhiều hơn một qũy đạo điện tử chứa một cặp điện tử. Các điện tử cũng xoay quanh trục của chúng giống như trái đất quay xung quanh trục của nó để tạo cho chúng ta ngày và đêm. Các điện tử được tìm thấy trong các nguyên tử và phân tử có khuynh hướng xuất hiện theo từng cặp. Thông thường, hai điện tử được ghép cặp hay đôi trong một qũy đạo với những hướng xoay nghịch nhau. Theo qui ước, những vòng xoay này được mô tả trong cơ học lượng tử hoặc là “lên” hoặc là “xuống”. Bởi vì những vòng xoay của các điện tử thông thường (theo các điều kiện tiêu chuẩn trong cái được đặt tên “trạng thái nghiền”, thường thường là trạng thái “(nhóm) đơn”) ở vào các hướng nghịch lại, các vectơ từ trường triệt tiêu lẫn nhau. Các vòng xoay đối chọi của những cặp điện tử đưa đến trạng thái năng lượng thấp hơn năng lượng của các nhóm khác. Khi một điện tử tự nó xoay trên một qũy đạo, có thêm năng lượng sẵn có do bởi việc quay của nó.
            Khi có một điện tử đơn lẻ, gốc sẽ có véc-tơ từ tính và được phát biểu là “nghịch từ”.
            Lý do rằng định nghĩa đơn giản được đưa ra trước đây là chính xác là tất cả các nguyên tử hay phân tử mà có       
 

số lượng lẻ điện tử, bắt buộc có một điện tử trên một qũy đạo bởi chính nó. Tuy nhiên, định nghĩa đơn giản hơn này không xét đến những cái như thế là các di-radical, là loại hóa chất có hai điện tử riêng lẻ hoặc các điện tử không ghép cặp, và nguyên tử của nhiều thành phần, là các gốc tự do bởi vì chúng chứa các điện tử riêng lẻ trong các quỹ đạo ngay cả khi tổng số điện tử là chẵn. Các phức hợp kim loại chuyển tiếp có một hay nhiều điện tử không ghép thành cặp liên kết với kim loại thông thường không được coi là gốc tự do.
            Tất cả các loại hóa chất với số lượng lẻ điện tử là gốc tự do, nhưng cũng có một số gốc tự do có số lượng chẵn điện tử, nhưng nói chung, những ngoại lệ này không là gốc tự do được đề cập trong hóa sinh.
            Gốc tự do đơn giản nhất là nhuyên tử hydro vì nó chỉ có một điện tử. Phân tử hydro có hai điện tử và không là gốc tự do. Các gốc tự do thông thường khác bao gồm phân tử ôxy lưỡng nguyên tử (O2), gốc superoxide ion âm (O 2 ● -), gốc hydroxyl (HO ), gốc alkoxyl (RO ), và gốc peroxyl (ROO ).    

LAN TRUYỀN GỐC TỰ DO
Rằng là các gốc tự do có năng lượng cao do bởi điện tử không ghép cặp của chúng, chúng có khuynh hướng phản ứng với các phân tử khác. Phản ứng này được mô tả đơn giản như “một nỗ lực lấy lại điện tử bị mất và trở nên bền vững”. Bởi vì điều này, hầu hết các gốc tự do không bền và rất dễ phản ứng. Như thế các gốc tự do có thể gây hại cho các thành phần cơ thể. Hầu hết các gốc tự do có thể kéo một điện tử từ các hợp chất hóa sinh. Người ta đã ước tính rằng mỗi tế bào trong cơ thể có thể va chạm với khoảng 10.000 gốc tự do mỗi ngày.
            Một số ít gốc tự do là các phân tử bền. Ôxýt nitric, một hợp chất hóa học tìm thấy tự nhiên trong cơ thể là một
 

thí dụ của gốc tự do là phân tử bền. Ôxýt nitric cực kỳ quan trọng trong việc duy trì áp huyết, cholesterol, và chức năng tim.
            Khi một gốc tự do phản ứng với một hợp chất khác, thông thường nó lấy đi một điện tử từ hợp chất đó, lẻ dĩ nhiên biến nó thành một số lẻ của các điện tử và trở nên gốc tự do. Loạt phản ứng này có thể tiếp tục cho tới khi phản ứng chấm dứt bởi một loại có thể thay đổi vòng xoay của điện tử hoặc gốc tự do cuối cùng hình thành năng lượng thấp và không đủ năng lượng để tiếp tục lan truyền. Các chất chống ôxýt hóa là các hợp chất dập tất các phản ứng của các gốc tự do bởi vì những gốc tự do hình thành có năng lượng khá thấp. Số lượng gây tổn hại xảy ra tùy thuộc cả số lượng gốc tự do va đạp và số lượng bảo vệ bởi các chất chống ôxýt hóa.

CÁC GỐC TỰ DO OXY
Hầu hết các gốc tự do được sản sinh trong thân thể là sản phẩm phụ of sự chuyển hóa ôxy, đó là, chúng được tạo nên khi ôxy được dùng để sản sinh năng lượng từ các thành phần thực phẩm. Một số gốc tự do ôxy cực kỳ có hại cho thân thể. Thật sự là chính phân tử ôxy, một phân tử hai nguyên tử gồm có hai nguyên tử ôxy, là gốc đôi. Phân tử hai nguyên tử ôxy tình trạng nền có hai điện tử không ghép thành cặp, mỗi điện tử định vị ở một quỹ đạo không dính vào nhau khác biệt. Như vậy nó có hai điện tử lẻ. Nhưng phân tử ôxy – thực sự là hai gốc tự do được kết hợp – không thực sự nguy hiểm bởi vì mỗi việc xoay của mỗi điện tử không ghép thành nhóm cùng một hướng. (Như thế, tình trạng nền của ôxy là tình trạng “bộ ba”, hơn là tình trạng đơn). Nếu các điện tử không ghép thành cặp của ôxy xoay nghịch chiều nhau, ôxy sẽ là gốc rất có ích.
            Tình trạng kích thích đầu tiên của ôxy là tình trạng đơn. Ôxy đơn, được kích thích bởi 23 kcal/mol    
 

 
(kílô calori / mol), có tất cả các điện tử không ghép thành cặp. Như thế ôxy đơn không là gốc tự do, nhưng là loại ôxy phản ứng (ROS).
            Trong tiến trình chuyển hóa được gọi là dây chuyền hô hấp, trong mitochondria (Ty lạp thể có chứa ATP và các enzyme liên quan đến các hoạt động chuyển hóa tế bào) đưa ra bào tương (cytoplasm) của hầu hết tế bào sống trong đó ôxy được dùng để tạo thành năng lượng từ các bon và hydro trong thực phẩm trong khi đó cũng tạo nên các bonít và nước, một số phản ứng ôxy đi chệch hướng. Các nguyên tử các bon và hydro trong thực phẩm mất điện tử, như thế gia tăng tình trạng màn che (số ôxýt hóa) và như thế “được ôxýt hóa”. Thông thường ôxy được giảm đi một bước hai điện tử. Đây được gọi là “sự giảm thiểu” khi nó giảm đi trạng thái màn che (Ôxýt hóa số) của ôxy.
            Độ chừng 1-2% thời gian, các phản ứng điện tử đơn xảy ra tạo thành một phản ứng phụ tạo nên các gốc ôxy rất có ích. Có một số bước trung gian trong đường mòn nhỏ này có thể giảm ôxy đối với nước, nhưng dọc theo đường chúng hình thành các gốc tự do đầy tiềm năng nguy hiểm và các loại ôxy hoạt động khác.
            Khi một điện tử được thêm vào phân tử ôxy hai nguyên tử, nó tạo nên gốc superoxide anion, mang điện tích âm. Một khi gốc superoxide anion được hình thành, các gốc tự do có thể bắt đầu lan ra khắp cơ thể cho đến khi chúng được chấm dứt – có nghĩa là, không hoạt động  - hoặc là thông qua enzim superoxide dismutase được tạo nên trong cơ thể hoặc bằng bất kỳ chất chống oxýt hóa nào đó.
 
 































các chức năng cần thiết khác của cơ thể có thể dẫn đến các thay đổi lan rộng về phân tử sinh học, khiến cơ thể nhạy cảm với nhiều bệnh tật. Các gốc tự do có thể là nguyên nhân duy nhất của một số ít chứng bệnh, chẳng hạn như bệnh đục thủy tinh thể hoặc một số bệnh ung thư, nhưng thường bao hàm tiến trình phát bệnh bởi việc làm suy yếu hệ miễn dịch và khiến cho bệnh tật gây bệnh trực tiếp cho cơ thể  bởi các nhân tố khác. Các gốc tự do cũng có thể làm xấu đi các điều kiện, và là tác nhân đối kháng đối với tiến trình phục hồi.
            Trước tiên, hãy nhìn vào các điều kiện sức khỏe hoặc các chứng bệnh liên quan đến sự gây tổn hai của các chất tự do liên quan đến cơ quan hoặc khu vực đặc biệt trong cơ thể. Chúng gồm có:
·        Rối loạn tế bào máu, bao gồm hệ thống lupus ban đỏ và bệnh thiếu máu hồng cầu liềm;
·        Rối loạn não bộ, bao gồm tính độc hại với thần kinh, sa sút trí tuệ vì lão hóa, bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer, đột quị, và chấn thương não bộ ví đột quị;
·        Các bệnh gôm, bao gồm bệnh nha chu;
·        Các bệnh về mắt, bao gồm bệnh đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng, bệnh xuất huyết mắt, tổn hại thoái hóa võng mạc, bệnh lý võng mạc gây nên bởi bệnh tiểu đường, và bệnh lý về ánh sánh võng mạc;
·        Rối loạn bó dạ dày-ruột non và gan, bao gồm viêm gan, tổn hại nội độc tố gan;
·        Rối loạn hệ thống tim và mạch máu tim, bao gồm xơ vữa động mạch, bệnh tim, thương tổn nội mô, co thắt mạch, và rối loạn thận gây bởi bệnh mao mạch gây bởi bệnh tiểu đường;
·        Tính bất thường của các khớp nối, bao gồm viêm khớp dạng phong thấp;
·        Rối loạn phổi, bao gồm hen suyễn, tổn hại gây ra vì khói thuốc lá, tràn khí phổi, tình trạng tăng ôxy, loạn phối hợp tử phế quản, xơ hóa màng nang, thương tổn gây nên bởi sự ô nhiễm các chất ô-xýt hóa, hội chứng sự cố hô hấp cấp tính (ARDS);
·        Rối loạn da, bao gồm bệnh sạm da (bệnh xám da), cháy nắng (phát xạ mặt trời), phỏng (thương tổn về viêm nhiễm), và bệnh vảy nến.

Như thế có nhiều điều kiện hoặc bệnh tật liên quan đến sự gây tổn hại vì gốc tự do có liên quan đến hơn một cơ quan hay khu vực của cơ thể. Chúng bảo gồm:
·        Lão hóa, bao gồm các rối loạn “lão hóa sớm” và khiếm khuyết miễn dịch của lão hóa;
·        Ung thư;
·        Thương tổn miễn dịch viêm khớp, bao gồm suy dinh dưỡng, tổn hại do rượu, thương tổn về phát xạ;
·        Rối loạn sinh dục và tinh trùng yếu.

Các chất chống ô-xýt hóa   
 Sự phòng thủ tốt nhất của chúng ta chống lại các gốc tự do và sự phát triển của các điều kiện sức khỏe và bệnh tật được liệt kê phía trên là các hợp chất được gọi là chất chống ô-xýt hóa. Ô-xy là thành phần gây phản ứng đó là lý do tại sao nó gây gỉ cho sắt, đẩy mạnh việc cháy, và hỗ trợ tiến trình cuộc sống. Sắt và các vật có chứa sắt để ngoài không khí (có chứa ô-xy) bị gỉ, hoặc như các nhà hóa học nói “ô-xýt hóa”. Tiến trình vật phản ứng với ô-xy được gọi là “sự oxy hóa”. Một chất ngăn chặn hoặc làm chậm đi sự ô-xýt hóa được gọi là “chất chống ô-xýt hóa”. Chất chống ô-xýt hóa cũng bảo vệ các chất liệu khác, chẳng hạn như mô sống chống lại tổn hại gây nên bởi ô-xy.
Trong thân thể, quan trọng là ô-xy phải được đặt đúng những vị trí đúng và tránh các vị trí không đúng khác. Chẳng hạn như các bạn không muốn ô-xy phản ứng với các thành phần tế bào tối cần thiết. Ô-xy sẽ  gây tổn hại cho chúng giống như gỉ gây tổn hại cho sắt. Trong thân thể chất ô-xýt hóa thừa của các thành phần tế bào có thể kích hoạt mầm mống gây lão hóa, bệnh tim, ung thư, và nhiều bệnh suy thoái kinh niên khác. Các chất chống ô-xýt hóa hy sinh mình để bảo vệ các thành phần cần thiết.
Để xem xét một chất chống ô-xýt hóa, một hợp chất bắt buộc phải thật hiệu quả để một ít phân tử bảo vệ được nhiều các phân tử khác bằng cách trung hòa các phân tử xấu hoặc phân mảnh các phân tử. Thân thể của chúng ta sản sinh ra một số chất chống ô-xýt hóa. Tuy nhiên, tùy thuộc vào chế độ ẩm thực để tạo nên nhiều chất chống ô-xýt hóa. Chất dinh dưỡng có chất chống ô-xýt hóa bao gồm các vi dưỡng chất, chất khoáng, axít amin, và các hợp chất hữu cơ.
Sinh tố C và E là hai chất chống ô-xýt hóa “nổi tiếng”. Sinh tố C ngăn ngừa ô-xýt hóa các phân tử hoà tan trong nước và là chất chống ô-xýt hóa đặc biệt hiệu quả trong các khu vực có chất lỏng trong thân thể, bao gồm huyết tương, dịch phổi, dịch của mắt, và ở giữa các tế bào. Mặt khác, sinh tố E là sinh tồ hòa tan chất béo đặc biệt trong lipít của màng tế bào. Những sinh tố này củng cố và gia tăng hoạt động chống ô-xýt hóa lẫn cho nhau. Bởi vì cơ thể không thể sản xuất ra sinh tố C hoặc E, chúng phải được tiếp nhận thông qua ẩm thực hoặc trong hình thức bổ sung.
Khoáng chất không là các chất chống ô-xýt hóa trực tiếp, nhưng một số khoáng chất có thể trở thành thành phần tối cần thiết của các enzim của chất chống ô-xýt hóa do cơ thể tạo nên. Các chất khoáng đó bao gồm chất selen, cần thiết cho việc tạo nên enzim chất chống ô-xýt hóa loại peptide hoạt động như một hợp chất hữu cơ và enzim thực vật cũng có trong bạch cầu hay sữa; sắt cần thiết cho phân hóa tố; măngan, đồng, và kẽm cần thiết để tạo nên bội ô-xýt hóa dismutase (ngẫu nhiên, các OPC như Pycnogenol® chứa những khoáng chất này).
Các hợp chất lưu huỳnh chẳng hạn như lưu huỳnh chứa duy nhất axít amin hay một axít amin thiết yếu giúp cho cơ thể sản sinh ra chất chống ô-xýt hóa chung nhất trong các tế bào, đó là loại peptide hoạt động như một hợp chất hữu cơ.
Loại peptide hoạt động như một hợp chất hữu cơ chống ô-xýt hóa, chẳng hạn như một adein hợp chất gồm bazơ có chứa nitơ loại sinh tố B (NADH), hợp chất hữu cơ Q10 và axít alpha-lipo, có thể được sản sinh trong cơ thể cũng như nhận được thông qua chế độ ẩm thực.
Các dưỡng chất bioflavonoid có thể thay thế một số nhu cầu cho sinh tố C chống ô-xýt hóa trong một số phản ứng hóa sinh và như thế tiết kiệm được một số sinh tố C. Nghiên cứu trước đây của người đoạt giải Nobel TS. Albert Szent-Györgyi đề nghị rằng các bioflavonoid có những thuộc tính phụ chứng tỏ rằng chúng được phân loại là sinh tố. Các khoa học gia Hoa Kỳ đã chối bỏ quan điểm này, nhưng nhiều khoa học gia Âu châu tin rằng các bioflavonoid ít nhất là bán cần thiết và rằng là sinh tố tổng hợp đáng nghiên cứu thêm.        

Bioflavonoid
Bioflavonoid thường được gọi đơn giản là flavonoid, là một lớp hàng ngàn các hợp chất có ích tìm thấy trong thực vật. Các cấu trúc của những hợp chất chống oxýt hóa khiến chúng dễ dàng cho các phân tử khác điện tử của mình. Khả năng này cho điện tử đi là đặc trưng của tất cả chất chống ôxýt hóa. Có hàng ngàn bioflavonoid xuất hiện thiên nhiên. Các khoa học gia phân loại có trên 4.000 loại, nhưng họ chắc chắn rằng có thêm vài ngàn loại chưa được phân loại.
            Flavonoid được tìm thấy trong trái cây, rau, hạt, hạt ngũ cốc,  cacao, và trong thức uống như trà và rược vang. Nhiều flavonoid là các sắc tố cung cấp cho một số trái cây màu xanh da trời và màu tím và một số trái cây với màu đỏ và xanh ngọc.
            Thêm vào các thuộc tính chống ôxýt hóa của chúng, bioflavonoid làm chủ những hiệu ứng có lợi trong cơ thể. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng các bioflavonoid sở hữu thuộc tính kháng vi rút, kháng viêm, kháng hixtamin, và ngay cả chống sâu răng.
            Sự quan trọng của các flavonoid chỉ được một số ít các nhà dinh dưỡng học nhận biết mà thôi. Vào tháng 12  năm 2006, TS. Balz Frei giám đốc Linus Pauling Institute và là giáo sư về hóa sinh và hóa lý trường Oregon State University ở Corvallis đã xuất bản bài báo về Free Radical Biology and Medicine kêu gọi sự chú ý về nhiều chiều hướng về hoá sinh của các flavonoid. TS. Frei đã chỉ ra rằng flavonoid từ trái cây và rau củ không những là các chất chống ôxýt hóa khi ăn vào nhưng còn đóng góp các lợi ích đáng kể bởi các cơ chế khác nữa. Ông ta nói rằng “Flavonoid cảm ứng cái được gọi là các enzim Giai đoạn II [một trong hai họ enzim] chũng giúp loại trừ tác nhân gây đột biến và sâu răng, và như thế có thể có giá trị trong việc ngăn ngừa ung thư”, “Flavonoid cũng có thể cảm ứng các cơ chế giúp loại trừ các tế bào ung thư và kềm chế sự xâm nhập của bướu.”
            Flavonoid cũng thu hút sự chú ý về cơ chế xây dựng khoa học, bao gồm dịch tễ học (dân số) và các nghiên cứu trên nền thực nghiệm tìm ra tiềm năng chống lại bệnh ung thư của một số flavonoid khác nhau, chẳng hạn như isoflavone, proanthocyanidin, và flavonol.
            Theo TS. Frei, flavonoid hoạt động trực tiếp cấp độ thấp với các tế bào hoặc gián tiếp bằng cách gia tăng các cấp độ của các chất chống ôxýt hóa khác. Các flavonoid có thể tích lũy trong các mô nơi mà chúng gây ra các hiệu ứng chất chống ôxýt hóa cục bộ với nồng độ rất thấp bằng cách điều chế các tín hiệu tế bào, điều chỉnh gien, sự tạo mạch, và các tiến trình sinh học khác bởi các cơ chế không chống lại sự oxýt hóa, hoặc chúng có thể hoạt động gián tiếp bằng cách gia tăng các cấp độ của các chất chống ôxýt hóa khác.
            Ngoài ra, các khoa học gia tham gia vào các nghiên cứu này ghi nhận rằng có chứng cứ rằng các flavonoid gia tăng sự kích hoạt của các nitric oxide synthase hiện hữu. Loại enzim này chịu trách nhiệm tổng hợp nitric oxide (ôxýt nitric, N2O5), một hợp chất hóa học được tìm thấy một cách tự nhiên trong cơ thể có hiệu ứng tích cực với mạch máu, ngăn ngừa viêm nhiễm, và hạ huyết áp.               

Proanthocyanidin
Proanthocyanidin xảy ra tự nhiên trong các chất chuyển hóa thực vật hiện hữu rộng rãi trong trái cây, rau củ, nhân, hạt, hoa, và vỏ. Các nguồn proanthocyanidin tốt bao gồm rượu vang đỏ, hạt nho, và vỏ cây thông. Đôi khi proanthocyanidin được gọi đơn giản là “procyanidin”. Những bioflavonoid cung cấp màu sắc cho thực vật, cơ bản là sắc tố tím-xanh da trời và đỏ. Các proanthocyanidin thuộc loại flavonoid được biết như các tannin đậm đặc, một trong hai loại tannin thực vật.
            Sự hiểu biết về sự kiện này không quan trọng đối với chúng ta, nhưng về lợi ích của các nhà hóa học người có thể đang đọc phần này, nói theo phương diện hóa học, các proanthocyanidin được xác định là các polime phân tử lượng cao bao gồm đơn vị đơn thể flavan-3-ol–(+) catechin và (-) epicatechin.Ôxýt hóa đậm đặc xảy ra giữa các bon C-4 của chu kỳ không đồng nhất và các các bon khác C-6 và C-8 của các nối vòng A và B. Các procyanidin B1–B4 được mô tả đặc tính bởi nối kết C4–C8 là dime thông thường nhất, thỉnh thoảng được tháp tùng bởi C4–C6 kết nối insomer (B5–B8).
            Ngay cả những ai không phải là nhà hóa học cũng tán thưởng sự kiện là một số nhà khoa học gọi các epicatechin và các thành viên phức tạp hơn của chúng như các OPC được phân loại là các sinh tố. TS. Norman Hollenberg ở Havard Medical School và Brigham và Women’s Hospital ở Boston ghi nhận rằng những ai dùng lượng lớn epicatechin giảm thiểu 10% nguy cơ mắc bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, tim mạch, và đột quị. TS. Hollenberg phát biểu với tạp chí Chemistry & Industry rằng sự quan trọng của các epicatechin  trong ẩm thực rất là lớn để có thể coi chúng là sinh tố.
            Các dữ liệu của TS. Hollenberg được xuất bản tháng 3 năm 2007 trên International Journal of Medical Sciences. TS. Hollenberg đã phát biểu, “Nếu những sự quan sát này có thể tiên đoán tương lai, thì chúng ta có thể nói mà không mơ hồ chút nào chúng thuộc về những quan sát quan trọng nhất trong lịch sử y khoa,” “Tất cả chùng ta đều đồng ý rằng penicillin và chất gây mê rất là quan trọng. Nhưng epicatechin có tiềm năng loại trừ 4 trong 5 loại bệnh tật thông dụng nhất trong thế giới Âu tây, thế thì mức quan trọng của epicatechin như thế nào? Tôi sẽ nói rằng rất quan trọng.”
            Danient Fabricant, phó chủ tịch công tác khoa học của Natural Products Association, giọng nói dẫn đạo trong công nghiệp sản phẩm thiên nhiên phát biều: “Sự liên kết giữa sự tiêu thụ epicatechin cao và sự giảm thiểu bệnh chết người rất là ấn tượng, chúng ta nên nghiên cứu thêm. Có thể rằng các chứng bệnh này là kết quả của sự thiếu hụt epicatechin.”
            Các nghiên cứu bổ trợ tìm thấy rằng các chế độ ẩm thực giàu flavonoid luôn hỗ trợ giảm thiểu tỉ lệ mắc phải bệnh tim mạch. Là một thí dụ về mộ nghiên cứu trên 34.489 phụ nữ hậu mãn kinh, xuất bản tháng 3 năm 2007 bản phát hành của American Journal of Clinical Nutrition, báo cáo rằng lượng ẩm thực cao một số loại flavonoid giảm thiểu nguy cơ tử vong về bệnh tim mạch (CVD), bệnh động mạch vành (CHD) và đột quị từ 10 đến 22%. “Nghiên cứu đầy triển vọng này về phụ nữ thời hậu mãn kinh, với mười sáu năm nghiên cứu, theo hiểu biết của chúng tôi, nghiên cứu thứ nhất đã được báo cáo về toàn thể flavonoid và về bảy lớp phụ của flavonoid,” được tác giả Pamela Mink thuộc Washington-based consulting firm, Exponent, Inc. viết.    

Oligomeric Proanthocyanidin (OPC)
Cuối cùng chúng ta cũng đi đến sự thảo luận về lớp các dưỡng chất quá quan trọng đối với sức khỏe của chúng ta các chất oligomeric proanthocyanidin, hoặc đơn giản là OPC. Để hiểu được OPC đã được đặt tên theo cái gì, hãy xem một monomer như là một đơn vị bioflavonoid. Hợp chất gồm có hai hay ba đơn vị (monomer) được gọi là “dimer” và “trimer” một cách tương ứng. Vẫn có những hợp chất lớn hiện diện gồm có từ bốn đến mười hai đơn vị.Những hợp chất này được gọi là “oligomer”. “Oligo” đơn giản cho chúng ta biết phân tử gồm một số đơn vị hóa học nhỏ hơn, nhưng không quá nhiều để trở thành một polymer lớn. Trong trường hợp này, một số đơn vị proanthocyanidin được kết hợp với nhau để tạo thành một loạt oligomeric proanthocyanidin, hoặc các OPC.
            OPC được tìm thấy với số lượng nhỏ trong một số thực phẩm, tuy nhiên, hai nguồn chính chiết xuất từ vỏ cây thông (Pycnogenol ®) được sản xuất từ vỏ cây thông vùng biển của Pháp, và chiết xuất từ hạt nho, được sản xuất từ hạt giống, hay hạt, của rượu vang nho (vitis vinifera). Chiết xuất rượu van đỏ cũng là nguồn to lớn OPC.
            Tự điển Wikipedia trên Internet (www.wikipedia.com) mô tả OPC như là một lớp flavonoid hoạt động như loại chất chống ôxýt hóa trong cơ thể con người. Trang web mô tả thêm:
OPC giúp bảo vệ chống lại các hiệu ứng stress bên trong và bên ngoài như khói thuốc lá, rượu, và chất độc môi trường như phát xạ, thuốc trừ sâu, dung môi, và kim loại nặng, cũng như các stress gây ra bởi các tiến trình chuyển hóa thông thường trong cơ thể. Những chất độc hại này kích khởi việc thành lập các gốc tự do. OPC loại trừ các gốc tự do và kết quả là giúp giảm đi các hiệu ứng của những stress này. Chúng có thể:
·        Giảm đi hiểm hoạ của bệnh tim mạch – OPC giảm đi chất béo trong máu, làm cho thành mạch máu mềm dẻo, giảm áp huyết, ngăn ngừa xơ cứng thành mạch máu, làm giảm độ nhớt của máu, và ngăn ngừa việc tạo thành cục đông máu (một loại cục nghẽn nhỏ trong máu). Ngoài ra, các nghiên cứu cho thấy rằng OPC có thể ngăn ngừa các bệnh về tim mạch bằng cách chống lại các hiệu ứng tiêu cực của nồng độ cao cholesterol trong tim và mạch máu.
·        Gia cố và sửa chửa các mô nối – OPC kềm chế các enzim trong cơ thể các enzim phá hủy collagen (chất tạo keo). Các tế bào được nối với nhau với các sợi rất khỏe gọi là collagen. OPC giúp collagen sửa chữa và tái tạo những kết nối này cho đúng, xóa bỏ những tổn hại trong nhiều năm tháng bị thương tổn và bị các gốc tự do tấn công. OPC được dùng theo chất mỹ phẩm qua đường miệng để ngăn ngừa các nếp nhăn.
·        Hoạt động như màn chắn mặt trời tự nhiên bên trong – Các tia tử ngoại tuyến từ mặt trời hủy hoại đến khoảng 50 % tế bào của da. OPC giảm thiểu số lượng này xuống còn 15%. Kềm chế các hiệu ứng hàng ngày của các tia nắng mặt trời lên trên da là phương thức phòng vệ tốt nhất chống lại sự lão hóa của da.
·        Cải thiện tuần hoàn – OPC củng cố các thành mao dẫn, và như thế cải thiện tuần hoàn. Các mao dẫn là các mạch máu nhỏ trong cơ thể. Chúng có nhiệm vụ cung cấp cho các mô cung ứng máu liên tục cho việc dinh dưỡng của chúng và cho các mục đích sửa chữa trong trường hợp bị tổn hại. Chúng cũng có trách nhiệm lấy đi các chất bã rác thải từ các mô. Để thực hiện những chức năng này một cách chính xác các mao mạch phải khỏe mạnh. (Điều này đặc biệt quan trọng đối với những ai với hệ thống tuần hoàn thỏa hiệp, chẳng hạn như nạn nhân đột quị, bệnh tiểu đường, viêm khớp, người hút thuốc, người uống thuốc ngừa thai, và những ai với hệ tim mạch suy nhược).
·        Cải thiện chức năng nhận biết – OPC là một trong những chất dinh dưỡng chống ôxýt hóa sẳn sàng băng qua cái chặn não bộ-máu. Cái chặn này thường bảo vệ não bộ khỏi các gốc tự do lưu thông trong máu. Điều này khiến OPC chống lại các gốc tự do trong mạch máu ở não và như thế giúp chúng khỏe mạnh. Việc này đạt đến gia tăng tính sắc sảo tinh thần, giảm thiểu tiềm năng về đột quị, và khả năng chống lại tình trạng lão suy.
·        Điều độ các đáp ứng dị ứng và viêm nhiễm – OPC giảm thiểu việc sản sinh hixtamin. Việc thải ra các hóa chất gây viêm nhiễm trong cơ thể (được gọi là hixtamin) gây nên viêm nhiễm. OPC kềm chế các enzim cần thiết để sản sinh ra hixtamin và ngăn ngừa việc thành lập của nó sẽ giảm thiểu viêm nhiễm. Bằng cách giảm thiểu việc sản sinh hixtamin một cách tự nhiên, OPC loại trừ nhu cầu về sản xuất chất chống hixtamin nhân tạo và các hiệu ứng phụ của nó; cho nên proanthocyanidin được dùng trong chữa trị bệnh dị ứng.        
Sự đồng vận giữa các OPC
Các OPC hoạt động theo cách đồng vận, đó là chúng hoạt động tốt với nhau. Chẳng hạn như khi các nguồn mạnh nhất của các OPC – chiết xuất từ vỏ cây thông vùng biển của Pháp, hạt nho, và rượu vang đỏ - được kết hợp với hai chất OPC quan trọng khác là cây việt quất và họ cam quít – chúng có một hiệu ứng lớn tổng hiệu ứng của các chất riêng lẻ cộng lại.
            Thay vì thảo luận về từng nguồn riêng lẻ, một chương cho chiết xuất từ vỏ cây thông, một chương về chiết xuất hạt nho, và vân vân, tôi sẽ thảo luận về mỗi chứng bệnh và điều kiện tách biệt  và sau đó giải thích về các nghiên cứu lâm sàng liên quan đến việc chữa trị dùng OPC. Nhưng trước hết, sau đây sự giải thích ngắn gọn các nguồn chính của các OPC.
            Chiết xuất từ vỏ cây thông (Pycnogenol) là nguồn đầu tiên của OPC được người ta khám phá. Trích dẫn thuộc tính là một đa hợp của hơn bốn mươi chất dinh dưỡnghoà tan trong nước và khả dụng sinh học cao được chiết xuất từ vỏ của một loại cây thông miền biển đặc biệt (Pinus pinaster Ait.) được tìm thấy ở miền tây nam nước Pháp. Chiết xuất này gồm một chuỗi rộng các chất OPC phục vụ nhiều chức năng hóa sinh, đặc biệt hoạt động chống ôxýt hóa đầy sức mạnh. Nhiều chất dinh dưỡng trong Pycnogenol là bioflavonoid. Pycnogenol chứa đựng một số lớp các bioflavonoid, bao gồm monomer và oligomer. Ngoài ra, có các axít hữu cơ của gia đình thông thường được gọi là axít trái cây. tôi đã nghiên cứu Pycnogenol từ năm 1991 và đã viết bốn cuốn sách và một số bài báo về nghiên cứu và nghiên cứu lâm sàng với nó. Hầu hết các nghiên cứu được trình bày trong cuốn sách này được đặt nền tảng trên các nghiên cứu lâm sàng với Pycnogenol. Loại OPC đã đang được nghiên cứu mạnh mẽ trên ba mươi năm, và như thế có nhiều khám phá trong lĩnh vực lâm sàng dùng với Pycnogenol hơn là với các OPC khác.
            Chiết xuất từ hạt nho (Vitis vinifera) chứa các OPC axít galic, epicatechin (EC), gallocatechin, epigallocatechin (EGC), epigallocatechin gallate (EGCG), và nhiều chất OPC khác đặc trưng đối với nho. Chiết xuất từ hạt nho cũng được nghiên cứu rộng rãi và nhận biết là rất có ích. Chiết xuất từ hạt nho và Pycnogenol có cùng một số ích lợi giống nhau và mỗi chất có các ích lợi riêng của mình. Kết hợp hai nguồn mạnh mẽ OPC cho ra các ích lợi của cả hai nguồn. Tôi thường được hỏi là “Chất nào tốt hơn, Pycnogenol hay chiết xuất từ hạt nho?” Câu trả lời của tôi là cả hai đều quan trọng. Loại nào tốt nhất táo hay cam? Mỗi loại trong chúng nó có chất dinh dưỡng quan trọng và bạn nên ăn cả hai.
            Một bài bình phẩm xuất sắc về các ích lợi sức khỏe của Chiết xuất từ hạt nho được TS. Dabasis Bagchi và đồng nghiệp ở Creighton University School of Pharmacy xuất bản (Toxicology, 2000).        
            Chiết xuất từ rượu vang đỏ chứa các OPC cung cấp cho rượu vang đỏ màu sắc đặc trưng. Những OPC được tìm thấy trong các cấp độ cao của vỏ của nho đỏ chứ không phải ở trong hạt. Một số nhà nghiên cứu tin vào rượu vang đỏ giải thích “Nghịch lý Pháp” – tỉ lệ măc bệnh tim tương đối thấp ở nước Pháp mặc dù họ theo chế độ ẩm thực nhiều chất béo và khuynh hướng hút thuốc. Một ly rượu vang đỏ chứa đựng trung bình 45 milligram (mg) chất OPC (Bagchi, 1999). Ngoài các hợp chất nho khác, chiết xuất rượu vang đỏ chứa các chất chống ôxýt hóa resveratrol, được gọi là “chất dinh dưỡng đột phá” của năm vào năm 2006 bởi một số nhà khoa học. Resveratrol sẽ được thảo luận sau trong những chương về lão hóa, bệnh tim, và ung thư.
            Dược thảo việt quất (Vaccinium myrtillus), một thành viên của họ dâu xanh, nổi tiếng về việc sử dụng của nó làm sắc bén thị giác ban đêm cho các phi công trong Thế giới chiến II. Các OPC có trách nhiệm về màu xanh đậm của quả việt quất, không những giới thiệu ở vỏ của quả, mà còn ở quả nữa. Các OPC trong quả việt quất bao gồm cyanidin, delphinidin, malvidin, pelargonidin, và peonidin. Loại quả việt quất này đã được dùng trong thời gian dài với các vấn đề thị giác và tuần hoàn và đã được pha chế kể từ năm 1945 cho bệnh về võng mạc đái tháo đường, một tình trạng tổn hại võng mạc gây ra bởi biến chứng bệnh tiểu đường (Dupier, Gale Encyclopedia of Alternative Medicine).
            Citrus bioflavonoid là một nhóm sắc tố thực vật được tìm thấy trong trái cây họ cam quít. TS. Albert Szent-Györgyi, một nhà nghiên cứu Hungary tìm ra rằng flavonoid trong vỏ cam quít rất hữu hiệu trong việc ngăn ngừa xuất huyết mao mạch và là người đầu tiên báo cáo về hoạt động sinh học của flavonoid trên tính mỏng manh của mao mạch (Szent-Györgyi, 1938). Các bioflavonoid quan trọng trong họ cam quít bao gồm hesperidin, eriodictyol, rutin, quercetin, naringin, và nhiều OPC.
            Ích lợi của các tổng hợp có chọn lọc OPC là chất chống ôxýt hóa đồng vận. Nó là một thí dụ về nguyên lý chất chống ôxýt hóa đồng vận tôi đã khám phá năm 1961 và đó là chủ đề trung tâm của các bằng sáng chế của tôi. Hãy nhìn vào cách thức mà OPC và những chất chống ôxýt hóa quan trọng khác hoạt động cùng nhau.

OPC đồng vận cùng các chất chống ôxýt khác
            Thêm vào các hợp chất các chất chống ôxýt hóa của OPC có nhân tố bảo vệ trực tiếp, OPC có hiệu ứng bảo vệ gián tiếp bằng cách cải thiện các chất chống ôxýt hóa khác trong các tế bào. OPC có thể gia tăng các mức độ của các enzim chất chống ôxýt hóa được cơ thể sản sinh, cũng như các chất chống ôxýt hóa đó như sinh tố C và E rút ra từ chế độ ẩm thực. Tiến sĩ Wei và đồng nghiệp đã cho thấy rằng Pycnogenol có thể tăng gấp đôi độ đậm đặc của superoxide dismutase, catalase, và glutathione trong các tế bào (Wei và cộng sự, 1997).
            Một lý do các chất chống ôxýt hóa hoạt động đồng vận với nhau đó là một số chất chống ôxýt hóa có thể tái sản sinh sinh tố C “đã dùng rồi” hoặc ‘đã tiêu xài”, sau đó có thể tái sản sinh sinh tố E đã dùng rồi (Cossins và cộng sự, 1998). Điều này có nghĩa rằng Pycnogenol khiến cho các lượng hiếm có sinh tố C và sinh tố E được tìm thấy trong hầu hết các chế độ ẩm thực của con người đối với chức năng như thể có các cấp độ cao hơn trong ẩm thực. Đây là kết quả của việc tái nạp lại các sinh tố đã dùng rồi thay vì thải chúng ra khỏi cơ thể.
            Khi một phân tử sinh tố E hay sinh tố C tiếp xúc với một gốc tự do, nó cho gốc tự do một điện tử và biến mình thành một phân tử trơ bình thường. Điều này khiến phân tử sinh tố E hoặc C một gốc tự do yếu. Gốc tự do yếu này không gây tổn hại cho cơ thể, nhưng khi nó đã cho đi một điện tử, nó không còn có thể ngăn các phản ứng của các gốc tự do khác bằng cách cho đi một điện tử. Như thế, sinh tố gốc sinh tố E hoặc gốc sinh tố C trở thành vô dụng. Thông thường cơ thể chỉ đơn thuần phá hủy đi các gốc không phản ứng bằng cách phá vỡ nó thành các hợp chất nhỏ hơn để cho phép sự lấy chúng ra khỏi cơ thể bằng cách thông qua thận.
            Trái lại, nếu một gốc sinh tố C trơ tiếp xúc với một trong số các bioflavonoid trong Pycnogenol, nó có thể được tái sản sinh trở lại thành phân tử sinh tố C hoạt tính. Sinh tố C hoạt tính có thể tái sản sinh một gốc sinh tố E không phản ứng trở thành phân tử sinh tố E hoạt tính. Hiệu ứng này của Pycnogenol là khả dĩ bởi vì các phân tử procyanidin lớn hơn trong Pycnogenol ổn định hóa cuộc sống của gốc sinh tố C không hoạt tính để nó không bị phân tách và rời khỏi cơ thể, nhưng có thể tồn tại đủ lâu để lấy lại điện tử bị mất của nó từ một trong nhiều phân tử của các procyanidin.
                
Một chất chống Ô-xýt hóa Duy nhất với những Lợi ích Đáng kể cho sức khỏe
 Các OPC là các chất chống ô-xýt hóa có nhiều tiện ích hơn là chỉ gồm có đa mục đích và mạnh mẽ. Chúng cũng còn có các thuộc tính sau chồng viêm nhiễm, đẩy nhanh tiến độ miễn dịch, chống lại xơ cứng (chống lại co cứng), và các hoạt  động chống lại chất đông tụ (chống lại đông tụ cục nghẽn trong máu) mạnh mẽ. Tất cả các hoạt động này khi tổng hợp lại có thể tạo nên cho các OPC công thức duy nhất và các lợi ích sức khỏe đáng kể.
            Trong chừng mực các khả năng của các chất chống ôxýt hóa có thể thực hiện, các OPC là các chất chống ôxýt hóa rất mạnh có hiệu ứng chống lại nhiều loại gốc tự do có hại. Trong khi một số các chất chống ôxýt hóa như sinh tố C và E tiêu diệt một số gốc tự do và các loại ôxy hoạt tính khác (ROS), một đa hợp các OPC có nhiều chất chống ôxýt hóa khác có thể tiêu diệt nhiều loại gốc tự do hơn và đến được nhiều khu vực của cơ thể hơn bất kỳ chất dinh dưỡng chống ôxýt hóa khác.
            Ngoài ra, các OPC giúp cân bằng và kiểm soát sự sản xuất nitric ôxýt là một hợp chất tốt trong nâng đỡ động mạch và các khu vực nhất định khác, nhưng ngược lại cũng là hợp chất rất là nguy hiểm. Tôi sẽ thảo luận về nitric ôxýt trong chương sau về bệnh tim.
            Pycnogenol cũng rất hiệu dụng vì sức mạnh tổng hợp của nó trong các OPC. Theo các nghiên cứu của TS. Lester Packer và đồng nghiệp của ông ta ở University of California, Berkeley, năm 1997, Pycnogenol là chất chống ôxýt hóa phức hợp mạnh mẽ nhất được nghiên cứu rộng rãi dưới các điều kiện thực nghiệm giống nhau và được báo cáo trong các tài liệu khoa học (Noda và đồng nghiệp, 1997).
            Các kết quả của các nghiên cứu về các khả năng chống ôxýt hóa của Pycnogenol cho thấy rằng có thể là chất khử mạnh nhất các gốc tự do ôxy và các gốc tự do nitơ, cũng như là các loại ôxy hoạt tính khác (ROS), và các loại nitơ hoạt tính (RNS) (Virgili và đồng sư, 1998). Pycnogenol cũng đã được chứng tỏ là chất khử mạnh nhất các gốc tự do hydroxyl và các gốc superoxide anion trong các hợp chất và các chiết xuất được thử nghiệm (Noda và đồng nghiệp, 1997).
            Khi Pycnogenol được cấp bằng sáng chế về hiệu ứng chất khử gốc tự do của nó vào năm 1987, nó được mô tả là mạnh hơn sinh tố E và sinh tố C gấp nhiều lần. Điều này đúng dưới một số điều kiện nhất định. Thí nghiệm đặc biệt trong phòng thí nghiệm được thực hiện để so sánh được gọi là thực nghiệm nitrobluetetrazolium, hoặc là NBT, và chỉ đ lường các khả năng của chất chống ôxýt hóa của một hợp chất và khả năng khử gốc tự do. Thực nghiệm này được thực hiện trong hệ thống môi trường nước thật sự là không công bằng khi chỉ dùng để so sánh các thuộc tính của chất chống ôxýt hóa của Pycnogenol và các thuộc tính chống ôxýt hóa của sinh tố E, vì sinh tố E không tan được trong nước như Pycnogenol và sinh tố C. Ngược lại, cũng không công bằng nếu thực nghiệm Pycnogenol trực tiếp trong hệ thống lipít (chất béo).
            Khi so sánh các chất chống ôxýt hóa, bắt buộc phải quan sát một số nhân tố. Chẳng hạn như một chất chống ôxýt hóa có thể tồn tại tốt trong một cơ quan hay hệ thống của cơ thể hơn một chất khác. Một chất chống ôxýt hóa có thể hiệu dụng hơn đối với một gốc tự do hơn loại khác. Nhiều biến số cần phải được xem xét. Cách công bằng duy nhất để so sánh các chất chống ôxýt hóa đó là so sánh các lịch sử của các hoạt động của nó trong việc chống lại nhiều dạng gốc tự do khác nhau.
            Pycnogenol đã được xếp loại tốt nhất trong nhiều chất chống ôxýt hóa nên TS. Packer đã so sánh các hiệu dụng của nó trong việc chống lại một số gốc tự do xuất hiện trong cơ thể. Trong các hệ thống mà Pycnogenol hiệu dụng – bao gồm nhiều hệ thống quan trọng đối với sức khỏe chẳng hạn như các mạch máu, mắt, tiểu cầu máu – ông ấy đã nhận thấy là Pycnogenol có hiệu ứng nhất trong các chất dinh dưỡng được thí nghiệm. Một phần tính độc tôn duy nhất của Pycnogenol đó là nó có thể hoạt động trong các khu vực nền là chất lỏng của cơ thể như sinh tố C và trong các khu vực nền là chất béo gia tăng hoạt động của chất chống ôxýt hóa trong các hệ thống có chất béo.
            Thêm vào các khám phá sinh học liên quan đến con người, TS. Chida và đồng nghiệp của ông ta thực hiện một nghiên cứu để so sánh khả năng của các chất chống ôxýt hóa khác nhau để bảo vệ các lipít võng mạc (chất béo) khỏi sự tổn hại do các gốc tự do gây nên. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng Pycnogenol hiệu nghiệm hơn là các sinh tố C và E, axít alpha-lipoic, hợp chất hữu cơ Q10, và chiết xuất hạt nho (Chida và cộng sự, 1999).
            Quan điểm là không thể có một chất dinh dưỡng chất chống ôxýt hóa có thể hoạt động tốt nhất trong tất cả các hệ thống – nhưng Pycnogenol hầu như là mạnh nhất trong hầu hết các hệ thống, đặc biệt trong các hệ thống quan trọng chính yếu, và nó hoàn toàn hiện hữu trong kho vũ khí phòng vệ chống lại các gốc tự do.
            Một lý do quan trọng tại sao một đa hợp pha trộn các OPC thì hiệu dụng hơn một hợp chất chất chống ôxýt hóa riêng lẻ đó là đa hợp chứa nhiều phân tử với các kích cỡ khác nhau có thể giúp những chất chống ôxýt hóa này đến được những phần khác nhau trong cơ thể.
            Các chất chống ôxýt hóa phức tạp của Pynogenol cung cấp các hợp chất với các kích cỡ khác nhau có thể hoạt động một cách hữu hiệu trong các phần khác nhau của cơ thể vào những thời điểm khác nhau. Các procyanidin lớn hơn trông hợp chất rất hữu hiệu với hệ tuần hoàn trong cơ thể, trong khi các phân tử flavonoid nhỏ hơn và các axít hữu cơ sẳn sàng xâm nhập vào bên trong tế bào. Các oligomeric procyanidin lớn hơn có một số điểm trong các phân tử của chúng có thể hủy diệt các gốc tự do. Ngược lại, sinh tố E chỉ có một điểm như thế. Những gốc tự do có những điểm bị hủy diệt được gọi là nhóm phê-nô-líc, và sinh tố E là phê-nôl đơn trong khi các OPC là phê-nôl đa.
            Ngoài ra, các loại hợp chất chất chống ôxýt hóa khác nhau trong OPC khiến chúng trở thành các chất chống ôxýt hóa nội bào và ngoại bào nhiều công dụng. Không những chúng bảo vệ bên trong và bên ngoài các tế bào, nhưng chúng cũng lưu chuyển trong mạch máu hủy diệt các gốc tự do trước khi chúng có thể gây hại cho các thành phần của cơ thể. Còn gì thêm nữa, các chất dinh dưỡng khác nhau trong OPC có các cấu trúc hóa học mà các cấu trúc này bảo vệ chống lại nhiều loại gốc tự do khác nhau. Trong khi đó, một hợp chất chất chống ôxýt hóa như sinh tố E hay sinh tố C thì bảo vệ chống lại một số gốc tự do, một hỗn hợp của nhiều loại chất chống ôxýt hóa khác nhau bảo vệ chống lại một số loại lớn hơn các gốc tự do. Bố cục duy nhất của Pycnogenol là cái gì đó trao khả năng tăng gấp đôi hàm lượng các enzim chất chống ôxýt hóa bên trong tế bào, trực tiếp thêm vào các gốc tự do trung tính.
            À, quá nhiều nền tảng hoá sinh về oligomeric proanthocyanidin. Hy vọng là các thông tin nền tảng này giúp giải thích cho chúng ta tại sao OPC hiệu dụng đến thế, nhưng cái quan trọng hơn đó là những gì các nghiên cứu lâm sàng đưa ra. Các chương tiếp theo sẽ xem xét về các nghiên cứu lâm sàng bao hàm các lợi ích cho sức khỏe của OPC.   

Tài liệu Dương Vương dịch.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét