ENGLISH –
VIETNAMESE TRANSLATION (WRITING)
PRACTICE 1
Aside from being an inspiring
challenge for all managers, Welch's management philosophy pinpoints two key
thrusts of this book. They are described in the following paragraphs.
1. A human resource development
thrust. Are employees a commodity to be hired and discarded depending on the
short-run whims of the organization? Or are they a valuable resource to be
nurtured and developed? Sadly, as the massive layoffs from corporate
downsizings, reorganizations, and mergers in recent years indicate, the first
assumption tends to be the rule.
The raw numbers are stunning: From
1982 to 1991, US industrial giants in the Fortune 500 eliminated 3.4 million
jobs. In 1993, alone, the more-encompassing list of Fortune 1000 companies cut
another 4 million jobs. Why? Management desired to reduce costs, boost profits,
and improve productivity. But recent research points to disappointing results:
. . . of 450 large companies that
downsized in 1991 and 1992, only 60% have seen their costs shrink and fewer
than half have improved their profits. Among firms that were gunning for
increased productivity only a third have actually achieved it.
Too often, large, mismanaged
companies that had engaged in undisciplined hiring during more prosperous times
simply became smaller, mismanaged companies. While a layoff can be a necessary
part of a comprehensive corporate transformation, as in the case of Welch's
1980s turnaround of General Electric, habitual layoffs are a dead end.
More progressive and far-sighted
companies treat their employees as a valuable resource, making layoffs the last
rather than the first option. They develop "human recycling" programs
through retraining and redeployment.
2. A results-oriented managerial thrust.
Few would argue with the claim that we all should know more about why people
behave as they do. After all, by better understanding others, we gain greater
understanding of ourselves. But from a managerial standpoint, simply acquiring
knowledge about organizational behavior is not enough. That knowledge needs to
be put to work to get something accomplished. Managers in all types and sizes
of organizations are responsible for getting results. The 4-P model of
strategic results in Figure 1-1—focusing on people, products, processes, and
productivity—represent management's agenda for continuous improvement in the
1990s and beyond. This book strives to help today's and tomorrow's managers
achieve these challenging and sometimes conflicting results.
The purpose of this chapter is to
explore the manager’s job, define and examine organizational behavior and its
evolution, and consider how we can learn more about organizational behavior. A
topical model for the balance of the book also is introduced.
PRACTICE 2
Organizational behavior, commonly
referred to as OB, is an interdisciplinary field dedicated to better
understanding and managing people at work. By definition, organizational
behavior is both research and application oriented. Three basic levels of analysis
in OB are individual, group, and
organizational. OB draws upon a diverse array of disciplines, including
psychology, management, sociology, organization theory, social psychology,
statistics, anthropology, general systems theory, economics, information
technology, political science, vocational counseling, human stress management,
psychometrics, ergonomics, decision theory, and ethics. This rich heritage has
spawned many competing perspectives and theories about human work behavior. By
the mid-1980s, one researcher had identified 110 distinct theories about
behavior within the field of OB.
Organizational behavior is an
academic designation. With the exception of teaching/research positions, OB is not an everyday job category such as accounting,
marketing, or finance. Students of OB
typically do not get jobs in organizational behavior, per se. This reality in
no way demeans OB or lessens its importance in
effective organizational management. OB is a
horizontal discipline that cuts across virtually every job category, business
function, and professional specialty. Anyone who plans to make a living in a
large or small, public or private, organization needs to study organizational
behavior.
PRACTICE 3
The Total Quality Management
Movement
What Is TQM?
Experts
on the subject recently offered this definition of total quality management:
TQM means that the organization's
culture is defined by and supports the constant attainment of customer
satisfaction through an integrated system of tools, techniques, and training.
This involves the continuous improvement of organizational processes, resulting
in high quality products and services.
Quality
consultant Richard J Schonberger sums up TQM as "continuous,
customer-centered, employee-driven improvement." TQM is necessarily
employee driven because product/service quality cannot be continuously improved
without the active learning and participation of every employee. Thus, in
successful quality improvement programs, TQM principles are embedded in the
organization's culture.
PRACTICE 4
Culture
generally remains below the threshold of conscious awareness because it
involves taken-for-granted assumptions about how one should perceive, think,
act, and feel. Cultural anthropologist Edward T. Hall put it this way:
Since
much of culture operates outside our awareness, frequently we don't even know
what we know. We pick...[expectations and assumptions] up in the cradle. We
unconsciously learn what to notice and what not to notice, how to divide time
and space, how to walk and talk and use our bodies, how to behave as men or
women, how to relate to other people, how to handle responsibility, whether
experience is seen as whole or fragmented. This applies to all people. The
Chinese or the Japanese or the Arabs are as unaware of their assumptions as we
are of our own. We each assume that they're part of human nature. What we think
of as “mind” is really internalized culture.
In
sum, it has been said: “you are your culture, and your culture is you”.
VIETNAMSE –
ENGLISH TRANSLATION (WRITING)
THỰC HÀNH 1:
VỐN TƯ NHÂN CHƯA MẶN MÀ VỚI SẢN XUẤT
1. Vấn đề huy động vốn trong dân
được coi là một trong những giải pháp chủ yếu của chiến lược vốn phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta.
2. Vốn tích lũy của dân cư “đến”
với xã hội bằng hai con đường: a. Tín dụng và nghĩa vụ về ngân sách; b. Dân cư
tự đầu tư.
3. Có thể nói nguồn vốn dân cư là
quan trọng, nhưng vốn này chưa mặn mà đầu tư vào sản xuất. Nguyên nhân tại đâu?
4. Vốn dân cư tuy lớn nhưng vô cùng
tản mạn.
5. Phần lớn doanh nghiệp trong nước
có lẽ do kinh nghiệm quá khứ chỉ muốn tự lực lập nghiệp hơn là hiệp lực, liên
doanh, liên kết.
6. Không có hiệp lực không thể tập
trung được vốn, không thể tạo nên những bứt phá về công nghiệp để đủ sức cạnh
tranh trên thị trường.
7. Trong khi đó cánh cửa ngoại nhập
dường như khi kín, khi hở, đó là lối vào cho những hàng lậu.
8. Hiệu quả chính sách bảo vệ hàng
nội hóa còn rất mong manh.
9. Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí
minh, người tiêu dùng không khó khăn mấy, có thể mua một lon bia Canada
“Blue light” giá không tới 5.000 đồng, rẻ hơn bất cứ loại bia nào sản xuất
trong nước.
10. Đó là bia, còn hàng ngàn loại
hàng hóa khác, người sành điệu có thể có trong tay những địa chỉ ‘rẻ” như vậy.
11. Nhiều tư thương ở các chợ bỏ sạp
vì thuế “chịu hết nổi”, mà chính vì những địa chỉ trên.
12. Tiêu thụ là nỗi lo bậc nhất của
các nhà sản xuất.
13. Với những người bước đầu khởi
nghiệp, họ không thiếu những bài ca khuyến khích, cổ vũ, nhưng đường đi thì đầy
chông gai tạo ra không biết bao nhiêu là thủ tục từ việc cấp đất, xây nhà
xưởng, xin giấy phép kinh doanh...đế những việc nhỏ nhất như xin mắc điện thoại
chẳng hạn.
14. Hết thảy các tư thương đều mơ
ước đồng vốn mồ hôi nước mắt của họ không trở thành mục tiêu săn đuổi của tệ
tham nhũng, hối lộ.
15. Đường đi thì khó khăn, đích tới
(việc tiêu thụ) thì chưa trông thấy, chính vì vậy nhiều người có vốn vẫn để đó
chờ xem.
THỰC HÀNH 2:
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
1. Trong các năm qua, đầu tư nước
ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được một số kết quả đáng
kể: có 291 giấy phép các loại đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư trên 2.600
triệu USD, không kể số đã hết hạn hoặc thu hồi, giải thể là 57 giấy phép.
2. Tham gia đầu tư có 27 quốc gia.
Dẫn đầu là Đài Loan với 53 giấy phép, tổng vốn đầu tư trên 635 triệu USD và
Hồng Kông với 51 giấy phép, tổng vốn đầu tư 666 triệu USD.
3. Ở những mức độ khác nhau, các dự
án đầu tư đã đem vào thành phố nhiều kỹ thuật cũng như công nghệ mới tiên tiến,
có một ít kỹ thuật hiện đại giải quyết được việc làm ổn định cho hơn 25.000
người, chưa kể đến hàng vạn việc làm có liên quan đến các dự án đầu tư như sản
xuất vật liệu, vận chuyển, dịch vụ các loại, tạo được cơ sở vật chất kỹ thuật
để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
4. Tổng vốn đầu tư đã đạt được năm
2000 bằng 50% vốn đầu tư đã đạt được suất sáu năm qua.
5. Đặc biệt, năm 1993 đã xuất hiện
những dự án với vốn đầu tư trên 200 triệu USD như nhà máy điện Hiệp Phước,
đường Bắc Nhà Bè ...
6. Hiện tại có một số dự án đầu tư
lớn đang trong quá trình đàm phán như thị trấn An Khánh, Thủ đức, Thương xá
Tax, khu công viên 23/ 9, khu công nghiệp nhẹ Bình Khánh...
7. Tính chung số giấy phép được cấp
trên địa bàn thành phố bằng 42% tổng số giấy phép của cả nước.
8. Ngoài 2 khu chế suất đã có,
Thành phố sẽ xây dựng khu công nghiệp cơ bản Hiệp Phước, khu công nghiệp Cát
Lái, khu công nghiệp kỹ thuật cao, nhằm tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài
vào sản xuất những sản phẩm có giá trị cao, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
9. Thành phố sẽ phát triển mạnh
theo 2 hướng: ra biển và qua sông Sài Gòn.
10. Trong năm nay, kế hoạch thu hút
vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố dự kiến 1,5 tỷ USD.
11. Để đạt chỉ tiêu này cần phải
cải tiến công tác vận động, đầu tư, chủ động chuẩn bị các mục tiêu và dự án cần
đầu tư, không để tự phát như lâu nay.
12. Yếu tố không kém quan trọng là
cần cải tiến thủ tục đầu tư.
13. Thủ tục càng phức tạp, khó hiểu
càng dễ gây ra tiêu cực cho môi trường đầu tư.
14. Vì vậy thủ tục đầu tư phải vừa
đơn giản, rõ ràng, vừa chặt chẽ.
THỰC HÀNH 3:
CÁC CÔNG TY ĐÔNG NAM
Á
VÀ CHÍNH SÁCH
ĐỔI MỚI KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
1. Trong khi các công ty Châu Á có
vẻ thích các dự án từ nhỏ đến vừa hơn, các công ty Mỹ tương đối hãy còn mới lạ đối
với thị trường Việt Nam thì chính các doanh
nhân từ Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore và Hongkong đang chiếm lĩnh
thị trường này với những số vốn đầu tư trị giá hàng tỉ đô la Mỹ.
2. Tính đến tháng tư năm nay, trong
số 33 dự án được cấp giấy phép trị giá hơn 100 triệu đô la thì hơn 20 dự án đều
do các công ty Đông Nam Á đảm nhận.
3. Và với Việt Nam hiện nay là
thành viên chính thức của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm:
Thái Lan, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia, và Brunei thì số nhà đầu
tư trong khu vực này hy vọng còn gia tăng nhiều.
4. Các tập đoàn tầm cỡ quốc tế như
Daewoo và Huyndai của Nam Triều Tiên, Chifon và Vedan của Đài Loan, Teltra của
Úc, Kinnevik và Comvik của Thụy Điển ... luôn coi Việt nam như “một mỏ vàng đầy
hứa hẹn”.
5. Chính vì vậy, họ đã và đang tiếp
tục đổ tiền của vào các dự án từ xây dựng khách sạn và hạ tầng cơ sở đến việc
sản xuất xe gắn máy và viễn thông.
6. Hiện nay Daewoo dẫn đầu danh
sách các nhà đầu tư tại Việt Nam với một số tiền khoảng 520 triệu đô la được đầu
tư vào 10 dự án, bao gồm một hợp đồng thăm dò dầu khí, một nhà máy lắp ráp xe
hơi và điện tử, một trung tâm thương mại, một sân gôn và một khách sạn 5 sao
tại Hà Nội.
7.
Theo DAEWOO thì các công trình này đã và đang cung cấp việc làm cho
khoảng 4.700 dân cư địa phương.
8. Đối tác với Công ty điện tử Hà
Nội (Hanel), Daewoo đã hoàn tất Trung Tâm Thương Mại DAEHA trị giá 177 triệu đô
la tại Hà Nội, Trung tâm này bao gồm 1 tòa cao ốc dùng làm văn phòng, một khách
sạn 5 sao và 1 khu nhà ở với các căn hộ phục vụ trọn gói và một khu mua sắm
hàng.
9. Cuối năm rồi Daewoo đã tuyên bố
trong năm 2000 tập đoàn này dự định đầu tư 2 tỉ đô la nữa vào Việt Nam.
10. Một tháng sau lời tuyên bố này,
Daewoo đã tham gia đàm phán với Công ty phục vụ xe khách Hà Nội để thảo luận
xây dựng một mạng lưới chuyên chở công cộng trị giá 136 triệu đô la trên phạm
vi cả nước.
11. Một khi được Chính phủ Việt Nam
phê duyệt, dự án khổng lồ này sẽ hiện đại hóa hệ thống chuyên chở công cộng của
Việt Nam với 4.000 đầu xe mới bao gồm các xe buýt nội thành và liên tỉnh, xe tắc
xi và xe tải.
12. Vedan hiện đang điều hành một
khu chế biến thực phẩm liên hợp tại tỉnh Đồng Nai, còn CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN đầu tu và phát triển FEI - YUEN thì có khu thương mại tại Thành phố Hồ Chí
Minh trị giá 468 triệu đô la.
13. Một tập đoàn tầm cỡ khác của
Đài Loan là CHIFON. Tập đoàn này tính đến nay đã đổ vào Việt Nam hơn 420 triệu đô la trong 3
lĩnh vực chính: xi măng, xe gắn máy và dịch vụ ngân hàng.
14. CHINFON đã đánh dấu sự có mặt
của mình tại Việt Nam vào năm 1992 với 2 dự án đầy tham vọng: Công ty TNHH chế
tạo công nghiệp và Gia công chế biến xuất khẩu Việt Nam (VMEP) để lắp ráp xe
máy và một nhà máy xi măng tại Hải Phòng.
15. Về sau để hỗ trợ đắc lực hơn
các hoạt động tại địa phương của mình CHIFON cũng đã mở một ngân hàng riêng tại
Hà Nội.
16. Trong những năm sắp tới, Bộ Kế
Hoạch và Đầu Tư của Việt Nam sẽ quan tâm đến việc chuyển đổi từ những dự án nhỏ
đến các dự án lớn, hứa hẹn nhiều vốn đầu tư béo bở hơn.
17. Một quan chức của Bộ Kế Hoạch
và Đầu Tư đã phát biểu: “đây là lúc cần chuyên chú vào các nhà đầu tư làm ăn
nghiêm túc”.
Theo đường lối chính sách này thì
Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư sẽ cấp giấy phép cho ít dự án hơn các năm qua nhằm bảo
đảm chất lượng cũng như mức độ tận tụy của mỗi công trình.
THỰC HÀNH 4: THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ GIA DỤNG
TẠI VIỆT NAM
1. Các đây hơn 5 năm, mua một TV
màu hay một đầu máy video là cả một vấn đề lớn. Làm sao mua được loại tốt? Giá
cả liệu có hợp lý không? Nhưng đến bây giờ thì người mua có thể hoa mắt trước
hàng chục nhãn hiệu TV, cassette, Video...đang bày bán khắp mọi nơi.
2. Thử đi dạo một vòng chợ Huỳnh
Thúc Kháng, một trong những chợ bán hàng điện tử lớn của TP.Hồ Chí Minh. Những
người bán ở đây đều công nhận rằng thời gian vài năm trở lại đây tốc độ bán
hàng điện tử gia dụng tăng cao hơn trước. Điều này phần nào chứng tỏ là nhu cầu
thị trường gia tăng và mức sống của người dân đã và đang được cải thiện.
3. Theo nguồn tin của Liên hiệp
Điện tử và Tin học Việt Nam
thì nhu cầu về hàng điện tử gia dụng của
Việt Nam
hàng năm gia tăng trên 17%.
4. Dự kiến từ nay đến năm 2000 nhu
cầu sẽ là từ khoảng 2 triệu đến 2,2 triệu chiếc/năm, trong đó đáng chú ý nhất
là các loại TV màu và đầu Video.
5. Chỉ trong khoảng 2 năm trở lại
đây, Việt Nam đã có trên 100 cở sở lắp
ráp các sản phẩm điện tử với công suất 4 triệu chiếc/năm.
6. Các sản phẩm lắp ráp tại Việt Nam đã bắt đầu
giành được sự tin tưởng của khách hàng và gần như đã chiếm lĩnh thị trường nội
địa.
7. Tuy nhiên, hiện nay cả nước chỉ
có 12 cơ sở lắp ráp đạt đến trình độ quy mô công nghiệp có vốn đầu tư lớn và
dây chuyền công nghiệp hiện đại.
8. Liên hiệp Điện tử và Tin học
Việt Nam trong những năm gần đây đã đầu
tư hơn 4 tỷ đồng và nhiều triệu đôla Mỹ để mua sắm dây chuyền thiết bị đồng bộ
để lắp ráp các sản phẩm điện tử gia dụng cao cấp dạng CKD cho các Vietronics
trực thuộc.
9. Những đầu tư trên đã đảm bảo
chất lượng các sản phẩm trước khi chúng được xuất xưởng.
10.Công bằng mà nói, thị trường
háng điện tử gia dụng của Việt Nam
còn ẩn chứa nhiều tiềm năng và sẽ phát triển nhanh chóng.
11. Từ chỗ chỉ vài ba loại lúc đầu,
nay đã có hàng chục nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới của Châu Á, Châu Âu chạy
đua cạnh tranh quyết liệt vào thị trường Việt Nam .
12. Chúng ta có thể kể ra một số
tên tuổi như SONY, TOSHIBA, PANASONIC, SHARP, SANYO, GOLDSTAR, DAEWOO, SAMSUNG,
PHILIPS, THOMSON...
13. Tuy nhiên, cho đến nay các nhãn
hiệu Châu Âu đã hầu như vắng bóng trên thị trường Việt Nam nhất là TV
và Video.
14. Hiện tại, trong khi các
hãng xưởng Châu Âu dừng lại ở mức độ
khuyến mãi thì các hãng xưởng điện tử Châu Á đã có những bước tiến dài bằng các
linh kiện lắp ráp vào Việt Nam
và thiết lập các mạng lưới bảo hành khắp Việt Nam .
15. Cùng với sự phát triển kinh tế
và mức sống của người dân Việt Nam được cải thiện thì thị trường hàng điện tử
gia dụng sẽ có nhiều cơ hội để phát triển.
16. Điều này đặt ra vấn đề cho các
nhà sản xuất là phải làm thế nào để sản phẩm của họ đáp ứng được nhu cầu chung
và đối với Nhà nước thì nên hỗ trợ cho nền công nghiệp còn non trẻ này, chẳng
hạn có chính sách khuyến khích sản xuất dưới dạng CKD, đồng thời kiên quyết
chống lại hàng điện tử nhập lậu để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.
ENGLISH –
VIETNAMESE TRANSLATION (ORAL INTERPRETATION)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét