Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Interpretation (TK)



ENGLISH – VIETNAMESE TRANSLATION (WRITING)
  
PRACTICE 1

            Aside from being an inspiring challenge for all managers, Welch's management philosophy pinpoints two key thrusts of this book. They are described in the following paragraphs.

            1. A human resource development thrust. Are employees a commodity to be hired and discarded depending on the short-run whims of the organization? Or are they a valuable resource to be nurtured and developed? Sadly, as the massive layoffs from corporate downsizings, reorganizations, and mergers in recent years indicate, the first assumption tends to be the rule.
            The raw numbers are stunning: From 1982 to 1991, US industrial giants in the Fortune 500 eliminated 3.4 million jobs. In 1993, alone, the more-encompassing list of Fortune 1000 companies cut another 4 million jobs. Why? Management desired to reduce costs, boost profits, and improve productivity. But recent research points to disappointing results:
            . . . of 450 large companies that downsized in 1991 and 1992, only 60% have seen their costs shrink and fewer than half have improved their profits. Among firms that were gunning for increased productivity only a third have actually achieved it.
            Too often, large, mismanaged companies that had engaged in undisciplined hiring during more prosperous times simply became smaller, mismanaged companies. While a layoff can be a necessary part of a comprehensive corporate transformation, as in the case of Welch's 1980s turnaround of General Electric, habitual layoffs are a dead end.
            More progressive and far-sighted companies treat their employees as a valuable resource, making layoffs the last rather than the first option. They develop "human recycling" programs through retraining and redeployment.
            2. A results-oriented managerial thrust. Few would argue with the claim that we all should know more about why people behave as they do. After all, by better understanding others, we gain greater understanding of ourselves. But from a managerial standpoint, simply acquiring knowledge about organizational behavior is not enough. That knowledge needs to be put to work to get something accomplished. Managers in all types and sizes of organizations are responsible for getting results. The 4-P model of strategic results in Figure 1-1—focusing on people, products, processes, and productivity—represent management's agenda for continuous improvement in the 1990s and beyond. This book strives to help today's and tomorrow's managers achieve these challenging and sometimes conflicting results.
            The purpose of this chapter is to explore the manager’s job, define and examine organizational behavior and its evolution, and consider how we can learn more about organizational behavior. A topical model for the balance of the book also is introduced.

PRACTICE 2

            Organizational behavior, commonly referred to as OB, is an interdisciplinary field dedicated to better understanding and managing people at work. By definition, organizational behavior is both research and application oriented. Three basic levels of analysis in OB are individual, group, and organizational. OB draws upon a diverse array of disciplines, including psychology, management, sociology, organization theory, social psychology, statistics, anthropology, general systems theory, economics, information technology, political science, vocational counseling, human stress management, psychometrics, ergonomics, decision theory, and ethics. This rich heritage has spawned many competing perspectives and theories about human work behavior. By the mid-1980s, one researcher had identified 110 distinct theories about behavior within the field of OB.
            Organizational behavior is an academic designation. With the exception of teaching/research positions, OB is not an everyday job category such as accounting, marketing, or finance. Students of OB typically do not get jobs in organizational behavior, per se. This reality in no way demeans OB or lessens its importance in effective organizational management. OB is a horizontal discipline that cuts across virtually every job category, business function, and professional specialty. Anyone who plans to make a living in a large or small, public or private, organization needs to study organizational behavior.

PRACTICE 3

The Total Quality Management Movement
 What Is TQM?
            Experts on the subject recently offered this definition of total quality management:
TQM means that the organization's culture is defined by and supports the constant attainment of customer satisfaction through an integrated system of tools, techniques, and training. This involves the continuous improvement of organizational processes, resulting in high quality products and services.
            Quality consultant Richard J Schonberger sums up TQM as "continuous, customer-centered, employee-driven improvement." TQM is necessarily employee driven because product/service quality cannot be continuously improved without the active learning and participation of every employee. Thus, in successful quality improvement programs, TQM principles are embedded in the organization's culture.

PRACTICE 4

            Culture generally remains below the threshold of conscious awareness because it involves taken-for-granted assumptions about how one should perceive, think, act, and feel. Cultural anthropologist Edward T. Hall put it this way:
            Since much of culture operates outside our awareness, frequently we don't even know what we know. We pick...[expectations and assumptions] up in the cradle. We unconsciously learn what to notice and what not to notice, how to divide time and space, how to walk and talk and use our bodies, how to behave as men or women, how to relate to other people, how to handle responsibility, whether experience is seen as whole or fragmented. This applies to all people. The Chinese or the Japanese or the Arabs are as unaware of their assumptions as we are of our own. We each assume that they're part of human nature. What we think of as “mind” is really internalized culture.
            In sum, it has been said: “you are your culture, and your culture is you”.

VIETNAMSE – ENGLISH TRANSLATION (WRITING)

THỰC HÀNH 1: VỐN TƯ NHÂN CHƯA MẶN MÀ VỚI SẢN XUẤT

1. Vấn đề huy động vốn trong dân được coi là một trong những giải pháp chủ yếu của chiến lược vốn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta.
2. Vốn tích lũy của dân cư “đến” với xã hội bằng hai con đường: a. Tín dụng và nghĩa vụ về ngân sách; b. Dân cư tự đầu tư.
3. Có thể nói nguồn vốn dân cư là quan trọng, nhưng vốn này chưa mặn mà đầu tư vào sản xuất. Nguyên nhân tại đâu?
4. Vốn dân cư tuy lớn nhưng vô cùng tản mạn.
5. Phần lớn doanh nghiệp trong nước có lẽ do kinh nghiệm quá khứ chỉ muốn tự lực lập nghiệp hơn là hiệp lực, liên doanh, liên kết.
6. Không có hiệp lực không thể tập trung được vốn, không thể tạo nên những bứt phá về công nghiệp để đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
7. Trong khi đó cánh cửa ngoại nhập dường như khi kín, khi hở, đó là lối vào cho những hàng lậu.
8. Hiệu quả chính sách bảo vệ hàng nội hóa còn rất mong manh.
9. Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí minh, người tiêu dùng không khó khăn mấy, có thể mua một lon bia Canada “Blue light” giá không tới 5.000 đồng, rẻ hơn bất cứ loại bia nào sản xuất trong nước.
10. Đó là bia, còn hàng ngàn loại hàng hóa khác, người sành điệu có thể có trong tay những địa chỉ ‘rẻ” như vậy.
11. Nhiều tư thương ở các chợ bỏ sạp vì thuế “chịu hết nổi”, mà chính vì những địa chỉ trên.
12. Tiêu thụ là nỗi lo bậc nhất của các nhà sản xuất.
13. Với những người bước đầu khởi nghiệp, họ không thiếu những bài ca khuyến khích, cổ vũ, nhưng đường đi thì đầy chông gai tạo ra không biết bao nhiêu là thủ tục từ việc cấp đất, xây nhà xưởng, xin giấy phép kinh doanh...đế những việc nhỏ nhất như xin mắc điện thoại chẳng hạn.
14. Hết thảy các tư thương đều mơ ước đồng vốn mồ hôi nước mắt của họ không trở thành mục tiêu săn đuổi của tệ tham nhũng, hối lộ.
15. Đường đi thì khó khăn, đích tới (việc tiêu thụ) thì chưa trông thấy, chính vì vậy nhiều người có vốn vẫn để đó chờ xem.

THỰC HÀNH 2: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

1. Trong các năm qua, đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được một số kết quả đáng kể: có 291 giấy phép các loại đang hoạt động với tổng số vốn đầu tư trên 2.600 triệu USD, không kể số đã hết hạn hoặc thu hồi, giải thể là 57 giấy phép.
2. Tham gia đầu tư có 27 quốc gia. Dẫn đầu là Đài Loan với 53 giấy phép, tổng vốn đầu tư trên 635 triệu USD và Hồng Kông với 51 giấy phép, tổng vốn đầu tư 666 triệu USD.
3. Ở những mức độ khác nhau, các dự án đầu tư đã đem vào thành phố nhiều kỹ thuật cũng như công nghệ mới tiên tiến, có một ít kỹ thuật hiện đại giải quyết được việc làm ổn định cho hơn 25.000 người, chưa kể đến hàng vạn việc làm có liên quan đến các dự án đầu tư như sản xuất vật liệu, vận chuyển, dịch vụ các loại, tạo được cơ sở vật chất kỹ thuật để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu.
4. Tổng vốn đầu tư đã đạt được năm 2000 bằng 50% vốn đầu tư đã đạt được suất sáu năm qua.
5. Đặc biệt, năm 1993 đã xuất hiện những dự án với vốn đầu tư trên 200 triệu USD như nhà máy điện Hiệp Phước, đường Bắc Nhà Bè ...
6. Hiện tại có một số dự án đầu tư lớn đang trong quá trình đàm phán như thị trấn An Khánh, Thủ đức, Thương xá Tax, khu công viên 23/ 9, khu công nghiệp nhẹ Bình Khánh...
7. Tính chung số giấy phép được cấp trên địa bàn thành phố bằng 42% tổng số giấy phép của cả nước.
8. Ngoài 2 khu chế suất đã có, Thành phố sẽ xây dựng khu công nghiệp cơ bản Hiệp Phước, khu công nghiệp Cát Lái, khu công nghiệp kỹ thuật cao, nhằm tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài vào sản xuất những sản phẩm có giá trị cao, tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
9. Thành phố sẽ phát triển mạnh theo 2 hướng: ra biển và qua sông Sài Gòn.
10. Trong năm nay, kế hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố dự kiến 1,5 tỷ USD.
11. Để đạt chỉ tiêu này cần phải cải tiến công tác vận động, đầu tư, chủ động chuẩn bị các mục tiêu và dự án cần đầu tư, không để tự phát như lâu nay.
12. Yếu tố không kém quan trọng là cần cải tiến thủ tục đầu  tư.
13. Thủ tục càng phức tạp, khó hiểu càng dễ gây ra tiêu cực cho môi trường đầu tư.
14. Vì vậy thủ tục đầu tư phải vừa đơn giản, rõ ràng, vừa chặt chẽ.

THỰC HÀNH 3: CÁC CÔNG TY ĐÔNG NAM Á
VÀ CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI KINH TẾ TẠI VIỆT NAM

1. Trong khi các công ty Châu Á có vẻ thích các dự án từ nhỏ đến vừa hơn, các công ty Mỹ tương đối hãy còn mới lạ đối với thị trường Việt Nam thì chính các doanh  nhân từ Đài Loan, Nam Triều Tiên, Singapore và Hongkong đang chiếm lĩnh thị trường này với những số vốn đầu tư trị giá hàng tỉ đô la Mỹ.
2. Tính đến tháng tư năm nay, trong số 33 dự án được cấp giấy phép trị giá hơn 100 triệu đô la thì hơn 20 dự án đều do các công ty Đông Nam Á đảm nhận.
3. Và với Việt Nam hiện nay là thành viên chính thức của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm: Thái Lan, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia, và Brunei thì số nhà đầu tư trong khu vực này hy vọng còn gia tăng nhiều.
4. Các tập đoàn tầm cỡ quốc tế như Daewoo và Huyndai của Nam Triều Tiên, Chifon và Vedan của Đài Loan, Teltra của Úc, Kinnevik và Comvik của Thụy Điển ... luôn coi Việt nam như “một mỏ vàng đầy hứa hẹn”.
5. Chính vì vậy, họ đã và đang tiếp tục đổ tiền của vào các dự án từ xây dựng khách sạn và hạ tầng cơ sở đến việc sản xuất xe gắn máy và viễn thông.
6. Hiện nay Daewoo dẫn đầu danh sách các nhà đầu tư tại Việt Nam với một số tiền khoảng 520 triệu đô la được đầu tư vào 10 dự án, bao gồm một hợp đồng thăm dò dầu khí, một nhà máy lắp ráp xe hơi và điện tử, một trung tâm thương mại, một sân gôn và một khách sạn 5 sao tại Hà Nội.
7.  Theo DAEWOO thì các công trình này đã và đang cung cấp việc làm cho khoảng 4.700 dân cư địa phương.
8. Đối tác với Công ty điện tử Hà Nội (Hanel), Daewoo đã hoàn tất Trung Tâm Thương Mại DAEHA trị giá 177 triệu đô la tại Hà Nội, Trung tâm này bao gồm 1 tòa cao ốc dùng làm văn phòng, một khách sạn 5 sao và 1 khu nhà ở với các căn hộ phục vụ trọn gói và một khu mua sắm hàng.
9. Cuối năm rồi Daewoo đã tuyên bố trong năm 2000 tập đoàn này dự định đầu tư 2 tỉ đô la nữa vào Việt Nam.
10. Một tháng sau lời tuyên bố này, Daewoo đã tham gia đàm phán với Công ty phục vụ xe khách Hà Nội để thảo luận xây dựng một mạng lưới chuyên chở công cộng trị giá 136 triệu đô la trên phạm vi cả nước.
11. Một khi được Chính phủ Việt Nam phê duyệt, dự án khổng lồ này sẽ hiện đại hóa hệ thống chuyên chở công cộng của Việt Nam với 4.000 đầu xe mới bao gồm các xe buýt nội thành và liên tỉnh, xe tắc xi và xe tải.
12. Vedan hiện đang điều hành một khu chế biến thực phẩm liên hợp tại tỉnh Đồng Nai, còn CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN đầu tu và phát triển FEI - YUEN thì có khu thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh trị giá 468 triệu đô la.
13. Một tập đoàn tầm cỡ khác của Đài Loan là CHIFON. Tập đoàn này tính đến nay đã đổ vào Việt Nam hơn 420 triệu đô la trong 3 lĩnh vực chính: xi măng, xe gắn máy và dịch vụ ngân hàng.
14. CHINFON đã đánh dấu sự có mặt của mình tại Việt Nam vào năm 1992 với 2 dự án đầy tham vọng: Công ty TNHH chế tạo công nghiệp và Gia công chế biến xuất khẩu Việt Nam (VMEP) để lắp ráp xe máy và một nhà máy xi măng tại Hải Phòng.
15. Về sau để hỗ trợ đắc lực hơn các hoạt động tại địa phương của mình CHIFON cũng đã mở một ngân hàng riêng tại Hà Nội.
16. Trong những năm sắp tới, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư của Việt Nam sẽ quan tâm đến việc chuyển đổi từ những dự án nhỏ đến các dự án lớn, hứa hẹn nhiều vốn đầu tư béo bở hơn.
17. Một quan chức của Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư đã phát biểu: “đây là lúc cần chuyên chú vào các nhà đầu tư làm ăn nghiêm túc”.
Theo đường lối chính sách này thì Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư sẽ cấp giấy phép cho ít dự án hơn các năm qua nhằm bảo đảm chất lượng cũng như mức độ tận tụy của mỗi công trình.
  
THỰC HÀNH 4: THỊ TRƯỜNG HÀNG ĐIỆN TỬ GIA DỤNG
TẠI VIỆT NAM

1. Các đây hơn 5 năm, mua một TV màu hay một đầu máy video là cả một vấn đề lớn. Làm sao mua được loại tốt? Giá cả liệu có hợp lý không? Nhưng đến bây giờ thì người mua có thể hoa mắt trước hàng chục nhãn hiệu TV, cassette, Video...đang bày bán khắp mọi nơi.
2. Thử đi dạo một vòng chợ Huỳnh Thúc Kháng, một trong những chợ bán hàng điện tử lớn của TP.Hồ Chí Minh. Những người bán ở đây đều công nhận rằng thời gian vài năm trở lại đây tốc độ bán hàng điện tử gia dụng tăng cao hơn trước. Điều này phần nào chứng tỏ là nhu cầu thị trường gia tăng và mức sống của người dân đã và đang được cải thiện.
3. Theo nguồn tin của Liên hiệp Điện tử và Tin học Việt Nam thì nhu cầu về hàng điện tử gia dụng  của Việt Nam hàng năm gia tăng trên 17%.
4. Dự kiến từ nay đến năm 2000 nhu cầu sẽ là từ khoảng 2 triệu đến 2,2 triệu chiếc/năm, trong đó đáng chú ý nhất là các loại TV màu và đầu Video.
5. Chỉ trong khoảng 2 năm trở lại đây, Việt Nam đã  có trên 100 cở sở lắp ráp các sản phẩm điện tử với công suất 4 triệu chiếc/năm.
6. Các sản phẩm lắp ráp tại Việt Nam đã bắt đầu giành được sự tin tưởng của khách hàng và gần như đã chiếm lĩnh thị trường nội địa.
7. Tuy nhiên, hiện nay cả nước chỉ có 12 cơ sở lắp ráp đạt đến trình độ quy mô công nghiệp có vốn đầu tư lớn và dây chuyền công nghiệp hiện đại.
8. Liên hiệp Điện tử và Tin học Việt Nam  trong những năm gần đây đã đầu tư hơn 4 tỷ đồng và nhiều triệu đôla Mỹ để mua sắm dây chuyền thiết bị đồng bộ để lắp ráp các sản phẩm điện tử gia dụng cao cấp dạng CKD cho các Vietronics trực thuộc.
9. Những đầu tư trên đã đảm bảo chất lượng các sản phẩm trước khi chúng được xuất xưởng.
10.Công bằng mà nói, thị trường háng điện tử gia dụng của Việt Nam còn ẩn chứa nhiều tiềm năng và sẽ phát triển nhanh chóng.
11. Từ chỗ chỉ vài ba loại lúc đầu, nay đã có hàng chục nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới của Châu Á, Châu Âu chạy đua cạnh tranh quyết liệt vào thị trường Việt Nam.
12. Chúng ta có thể kể ra một số tên tuổi như SONY, TOSHIBA, PANASONIC, SHARP, SANYO, GOLDSTAR, DAEWOO, SAMSUNG, PHILIPS, THOMSON...
13. Tuy nhiên, cho đến nay các nhãn hiệu Châu Âu đã hầu như vắng bóng trên thị trường Việt Nam nhất là TV và Video.
14. Hiện tại, trong khi các hãng  xưởng Châu Âu dừng lại ở mức độ khuyến mãi thì các hãng xưởng điện tử Châu Á đã có những bước tiến dài bằng các linh kiện lắp ráp vào Việt Nam và thiết lập các mạng lưới bảo hành khắp Việt Nam .
15. Cùng với sự phát triển kinh tế và mức sống của người dân Việt Nam  được cải thiện thì thị trường hàng điện tử gia dụng sẽ có nhiều cơ hội để phát triển.
16. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà sản xuất là phải làm thế nào để sản phẩm của họ đáp ứng được nhu cầu chung và đối với Nhà nước thì nên hỗ trợ cho nền công nghiệp còn non trẻ này, chẳng hạn có chính sách khuyến khích sản xuất dưới dạng CKD, đồng thời kiên quyết chống lại hàng điện tử nhập lậu để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.


ENGLISH – VIETNAMESE TRANSLATION (ORAL INTERPRETATION)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét