Chương 1
Một số vấn đề chung về đầu tư và dự án đầu tư
Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng
các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật
chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Xuất phát từ phạm vi phát huy
tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư.
Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở
hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết
quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết
quả đó. Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và
trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài
sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực.
Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử
dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết
quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả
đó.
Từ đây có khái niệm về đầu tư như sau: Đầu tư là hoạt động
sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí
tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi
nhuận và lợi ích kinh tế xã hội
Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:
- Trước hết phải có vốn. Vốn có thể bằng tiền,
bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng
khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ,
dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài
nguyên khác. Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần,
vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
- Một đặc điểm khác của đầu tư là thời gian tương đối
dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến 50 năm, nhưng tối đa cũng
không quá 70 năm. Những hoạt động ngắn hạn trong vòng một năm tài chính không
được gọi là đầu tư. Thời hạn đầu tư được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc Giấy
phép đầu tư và còn được coi là đời sống của dự án.
- Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai
mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã
hội (biểu hiện qua chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được
gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
của chủ đầu tư, còn gọi lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của
cộng đồng.
Có nhiều cách phân loại đầu tư. Để phục vụ cho việc lập và
thẩm định dự án đầu tư có các loại đầu tư sau đây:
1. Theo chức năng quản
lý vốn đầu tư
- Đầu tư trực tiếp:
là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản lý vốn đã bỏ
ra .Trong đầu tư trực tiếp người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn là một chủ
thể. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài tại Việt
Nam
.
Đặc điểm của loại đầu tư này là chủ thể đầu tư hoàn toàn chịu
trách nhiệm về kết quả đầu tư. Chủ thể đầu tư có thể là Nhà nước thông qua các
cơ quan doanh nghiệp nhà nước; Tư nhân thông qua công ty tư nhân, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Đầu tư gián tiếp:
là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý vốn
đã bỏ ra. Trong đầu tư gián tiếp người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn
không phải là một chủ thể. Loại đầu tư này còn được gọi là đầu tư tài chính như
cổ phiếu, chứng khoán, trái khoán…
Đặc điểm của loại đầu tư này là người bỏ vốn luôn có lợi
nhuận trong mọi tình huống về kết quả đầu tư, chỉ có nhà quản lý sử dụng vốn là
pháp nhân chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư .
- Cho vay (tín
dụng): đây là hình thức dưới dạng cho vay kiếm lời qua lãi suất tiền cho vay.
2. Theo nguồn vốn
Đầu tư trong nước:
Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của
các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước
ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam. Đầu tư trong nước chịu sự điều chỉnh của Luật
khuyến khích đầu tư trong nước.
Đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam : Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam,
dưới đây gọi tắt là đầu tư nước ngoài, là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu
tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Đầu tư ra nước
ngoài: Đây là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của nước này tại
nước khác.
3. Theo tính chất đầu
tư
Đầu tư chiều rộng
(đầu tư mới): Đầu tư mới là đầu tư để xây dựng mới các công trình,
nhà máy, thành lập mới các Công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới. Đặc điểm
của đầu tư mới là không phải trên cơ sở những cái hiện có phát triển lên. Loại
đầu tư này đòi hỏi nhiều vốn đầu tư , trình độ công nghệ và quản lý mới . Thời
gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, độ mạo
hiểm cao.
Đầu tư chiều sâu
: Đây là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang bị lại,
đồng bộ hoá, hiện đại hóa, mở rộng các đối tượng hiện có. Là phương thức đầu tư
trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị vốn đã bỏ ra, đòi hỏi ít vốn,
thời gian thu hồi vốn nhanh.
4. Theo thời gian sử dụng: có đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn và đầu tư dài hạn
5. Theo lĩnh vực hoạt động: có đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư cho nghiên cứu khoa học,
đầu tư cho quản lý..
6. Theo tính chất sử
dụng vốn đầu tư
Đầu tư phát triển:
là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài
sản. Đây là phương thức căn bản để tái sản xuất mở rộng.
Đầu tư
chuyển dịch: là
phương thức đầu
tư trực tiếp,
trong đó việc bỏ vốn nhằm
chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu …)
7. Theo ngành đầu tư
Đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng: là hoạt động đầu tư phát triển nhằm xây dựng cơ sở hạ
tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, BCVT, điện nước) và hạ tầng xã hội (trường học,
bệnh viện, cơ sở thông tin văn hoá).
Đầu tư phát triển
công nghiệp: nhằm xây dựng các công trình công nghiệp.
Đầu tư phát triển
dịch vụ: nhằm xây dựng các công trình dịch vụ…
Quá trình đầu tư được phân thành 3 giai đoạn lớn như sau:
1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Giai
đoạn này cần giải quyết các công việc:
-
Nghiên cứu sự cần thiết
phải đầu tư và quy mô đầu tư.
-
Tiến hành tiếp xúc,
thăm dò thị trường trong nước, ngoài nước để xác định nguồn tiêu thụ, khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, vật tư cho sản xuất.
-
Xem xét khả năng về
nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư.
-
Tiến hành điều tra, khảo
sát và lựa chọn địa điểm.
-
Lập dự án đầu tư.
-
Thẩm định dự án đầu
tư.
Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản Quyết định đầu
tư nếu đây là đầu tư của Nhà nước hoặc văn bản Giấy phép đầu tư nếu đây là của
các thành phần kinh tế khác.
2. Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này gồm các công việc:
-
Xin giao đất hoặc thuê
đất (đối với dự án có sử dụng đất); Xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có
giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài
nguyên);
-
Chuẩn bị mặt bằng xây
dựng: Thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng , thực hiện kế hoạch tái định cư và
phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng
xây dựng.
-
Chọn thầu tư vấn khảo
sát thiết kế.
-
Thẩm định thiết kế.
-
Đấu thầu mua sắm thiết
bị, công nghệ;
-
Thẩm định, phê duyệt
thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình.
-
Ký các loại hợp đồng
thực hiện dự án.
-
Tiến hành
thi công công trình.
-
Lắp đặt thiết bị.
-
Tổng nghiệm thu công
trình.
3. Giai đoạn kết
thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn này gồm các công
việc:
-
Nghiệm thu, bàn giao
công trình;
-
Thực hiện việc kết
thúc xây dựng công trình;
-
Vận hành công trình và
hướng dẫn sử dụng công trình;
-
Bảo hành công trình;
-
Quyết toán vốn đầu tư;
Phê duyệt quyết toán.
-
Đưa công trình vào sản
xuất kinh doanh
1. Khái niệm dự
án: Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm
tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoản thời gian xác định với sự
ràng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn.
- Tổng thể các hoạt động: Dự án bao gồm nhiều công việc mà
tất cả đều phải kết thúc bằng một sản phẩm giao nộp - sản phẩm, kế hoạch, báo
cáo, hồ sơ tài liệu mà muốn có đều đòi hỏi những quyết định, điều hoà các mặt
yêu cầu, các chi phí và sự chấp nhận rủi ro.
- Các công việc lệ thuộc vào nhau: Vì tất cả đều đáp ứng một
mối quan tâm sự thành công của dự án và do đó tất cả chỉ còn là những đóng góp
cho một hệ thống rộng lớn, hướng đích hơn. Sự sắp xếp công việc trong dự án phải
tôn trọng một lô gíc về thời gian
- Các công việc và tổng thể các công việc cần được thực hiện
trong một thời hạn xác định. Dự án có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.
- Các nguồn lực để thực hiện các công việc và tổng thể công
việc là giới hạn. Mỗi dự án thường tiêu phí các nguồn lực. Các nguồn lực này
càng bị ràng buộc chặt chẽ khi chi phí cho dự án là một số thành công then chốt.
- Các hoạt động của dự án diễn ra trong môi trường không chắc
chắn. Môi trường của dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường
tương lai.
Như vậy, dự án và các hoạt động đang tiến hành có những điểm
chung. Cả hai đều do con người thực hiện và bị giới hạn về nguồn lực, cả hai đều
được lên kế hoạch, thực hiện và kiểm tra. Sự khác biệt ở chỗ các hoạt động đang
được tiến hành có tính chất lặp lại, còn dự án thì có thời hạn và là duy nhất.
Dự án phải trả lời được các câu hỏi sau:
a. Mục tiêu của dự
án là gì?
b. Thời gian thực hiện
bao lâu? Địa điểm nào?
c. Nguồn lực cần thiết
(lao động, vốn…) là bao nhiêu?
d. Hoạt động của dự
án được thực hiện như thế nào?
e. Sản phẩm, dịch vụ hay giá trị đầu ra được tạo ra từ dự án là
gì?
2. Dự án – một
phương thức hoạt động có hiệu quả: Hoạt động theo dự án là một
hoạt động có kế hoạch, được kiểm tra để đảm bảo cho một tiến trình chung với
các nguồn lực và môi trường đã được tính toán nhằm thực hiện những mục tiêu nhất
định. Dự án là điều kiện, tiền đề của sự đổi mới và phát triển. Những năm gần
đây, số lượng các dự án tăng lên. Dự án sinh ra nhằm giải quyết những “vấn đề”
trên con đường phát triển của một doanh nghiệp, một quốc gia, một khu vực thậm
chí trên phạm vi toàn cầu. Dự án cho phép hướng mọi sự nỗ lực có thời hạn để tạo
ra sản phẩm dịch vụ mong muốn. Nhu cầu muốn trở thành hiện thực phải thông qua
hoạt động của con người. Hoạt động khôn ngoan là hoạt động theo dự án, những hoạt
động đã được lên kế hoạch và đủ nguồn lực để đảm bảo sự thành công.
3. Dự án là một hệ
thống: Tính hệ thống của một dự án xuất phát từ những căn cứ sau
đây:
- Những hoạt động trong một dự án quan hệ và chi phối lẫn nhau theo những
lôgíc nhất định. Một công việc không được thực hiện hoặc không thực hiện
đúng tiến độ và chất lượng sẽ ảnh hưởng không tốt đến các công việc khác và
toàn bộ các công việc của dự án.
- Mỗi dự án tồn tại một mục tiêu quy định hoạt động của
toàn bộ dự án, tạo ra sự hạn định về các phương diện của dự án.
- Mỗi dự án đều có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với môi trường.
Như vậy dự án không chỉ là một hệ thống kỹ thuật, mà nó là một hệ thống xã hội.
Một hệ thống được đặc trưng bởi các hoạt động của con người. Dự án là một hệ thống
mở, có sự trao đổi qua lại với môi trường.
Quan niệm dự án như một hệ thống có ý nghĩa quan trọng đối
với các nhà quản lý dự án. Một hệ thống muốn tồn tại và phát triển cần phải phù
hợp với môi trường, phải có một cơ cấu hợp lý với những chức năng nhất định, phải
đảm bảo đủ đầu vào để có được những đầu ra mong
muốn, trên hết phải có một cơ chế đều
khiển thích ứng
cho hệ thống.
Phương pháp phân tích hệ thống trở
thành phương pháp nghiên cứu đặc thù trong quản lý các dự án.
Đặc trưng của các phương pháp này trong quản lý dự án là:
+ Quan niệm dự án như là một hệ thống các hoạt động có mục
đích và mục tiêu ở mọi giai đoạn khác nhau của dự án.
+ Các hoạt động trong một dự án cần được thực hiện theo những
lôgíc chặt chẽ về thời gian, không gian và vật chất.
+ Tính toán đầy đủ đến các yêu tố đảm bảo hiệu quả hoạt động
của dự án trong thế vận động và biến đổi.
4. Các phương diện chính của dự án
µ Phương diện
thời gian: Chu trình của một dự án bao gồm
nhiều giai đoạn khác nhau, thường bao gồm ba giai đoạn chính:
è Giai đoạn xác định, nghiên cứu và lập dự án. Đây là
giai đoạn quyết định hành động hay không hành động, triển khai hay không triển
khai dự án. Giai đoạn này mang tính chất nghiên cứu. Từ ý tưởng xuất hiện do một
nhu cầu nào đó đến việc luận chứng về mọi khía cạnh để biến ý tưởng thành thực
tế là cả một công việc khó khăn phức tạp. Đối với những dự án đầu tư lớn, giai
đoạn này giữ vị trí then chốt, đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia giỏi, làm việc có
trách nhiệm. Trong giai đoạn xác định, nghiên cứu và lập dự án, các công việc cần
được tiến hành một cách thận trọng, không vội vã với các lý do
+ Ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của dự án.
+ Tính chất phức tạp của công việc
+ Kinh phí cho giai đoạn này chưa nhiều. Gia tăng thời gian
và kinh phí cho giai đoạn này là cần thiết, góp phần quan trọng làm giảm rủi ro
cho dự án.
+ Khả năng tác động của các chủ thể quản lý tới các đặc
tính cuối cùng sản phẩm dự án là cao nhất.
Đối với các dự án đầu tư, giai đoạn một là giai đoạn chuẩn
bị đầu tư gồm nghiên cứu đánh giá cơ hội đầu tư; Nghiên cứu và lập dự án tiền
khả thi và khả thi và thẩm định và phê duyệt dự án ở các cấp quản lý. Sản phẩm
của giai đoạn này là một bản dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong đầu
tư, đó là luận chứng kinh tế – kỹ thuật hay dự án khả thi.
è Giai đoạn triển khai thực hiện dự án. Trong giai đoạn
này các nguồn lực được sử dụng, các chi phí phát sinh, đối tượng dự án được từng
bước hình thành. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn này là tiến hành công việc
nhanh, đảm bảo chất lượng công việc và chi phí trong khuôn khổ đã được xác định
bởi vì các chi phí chủ yếu diễn ra ở giai đoạn này, chất lượng dự án phụ thuộc
vào kết quả hoạt động trong giai đoạn này và đây là giai đoạn quyết định việc
đưa dự án vào khai thác sử dụng để thực hiện mục tiêu dự án.
Đối với các dự án đầu tư, giai đoạn này được gọi là giai đoạn
thực hiện đầu tư. Nội dung giai đoạn này bao gồm:
Xin giao hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (nếu có
xây dựng)
Chuẩn bị mặt bằng xây dưng (nếu có xây dựng)
Tổ chức tuyển chọn tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám định kỹ
thuật và chất lượng công trình (đấu thầu tuyển chọn tư vấn).
Thẩm định thiết kế công trình
Tổ chức đấu thầu, mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu
có xây dựng)
Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án
Thi công xây lắp công trình
Nghiệm thu công trình và thanh quyết toán
Triển khai thực hiện dự án là kết quả một quá trình chuẩn bị
và phân tích kỹ lưỡng, song thực tế rất ít khi dự án được tiến hành đúng như kế
hoạch. Nhiều dự án đã không đảm bảo tiến độ thời gian và chi phí dự kiến, thậm
chí một số dự án đã phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp kỹ thuật không
thích hợp, do thiếu vốn, do những biến động về môi trường dự án, đặc biệt là do
hạn chế về mặt quản lý mà phổ biến là thiếu cán bộ quản lý dự án, cơ cấu tổ chức,
phân công trách nhiệm không rõ ràng, sự phối hợp kém hiệu quả giữa các cơ quan
tham gia vào dự án. Những yếu kém trong quản lý thường gây ra tình trạng chậm
trễ thực hiện và chi phí vượt mức, giám sát thiếu chặt chẽ và kém linh hoạt, phản
ứng chậm trước những thay đổi trong môi trường kinh tế – xã hội.
è
Giai đoạn khai thác dự án. Đây là giai đoạn hoạt động dự án. Giai đoạn này được
bắt đầu từ khi kết thúc thực hiện dự án đến hết thời kỳ hoạt động của dự án.
Trong giai đoạn hoạt động, dự án bắt đầu sinh lợi. Đối với các dự án đầu tư
theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp, đây là thời kỳ sản xuất kinh doanh, thời kỳ
thu hồi vốn. Đối với các dự án khác, đây là thời kỳ khai thác dự án. Thời kỳ
này đóng vai trò quyết định cuối cùng của toàn bộ chu kỳ dự án. Lợi ích của dự
án chỉ được thực hiện ở giai đoạn này.
Về phương diện thời gian, dự án cần xem như một quá trình gồm
ba giai đoạn kế tiếp và chi phối lẫn nhau. Mỗi giai đoạn đều có vị trí quan trọng
và đều diễn ra trong một thời gian xác định. Xuất phát từ yêu cầu về kết quả cuối
cùng của dự án, giai đoạn đầu cần tiến hành một cách thận trọng vì đây là việc
đưa ra một quyết định quản lý quan trọng. Giai đoạn hai cần được triển khai
nhanh nhằm rút ngắn thời gian thực hiện, đưa dự án vào khai thác đem lại hiệu
quả.
µ Phương diện
kinh phí của dự án: Kinh phí của dự án là biểu hiện bằng tiền của các nguồn
lực cần thiết cho hoạt động của dự án. Đối với các dự án đầu tư, phương diện
kinh phí của dự án là phương diện tài chính mà trung tâm là vấn đề vốn đầu tư
và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Vốn đầu tư cần được tính chính xác và quản lý
chặt chẽ. Đủ kinh phí dự án mới được thực hiện và hoạt động theo tiến độ đã đề
ra. Kinh phí của dự án luôn luôn là thành tố quan trọng tạo nên hiệu quả kinh tế
các dự án, đặc biệt là các dự án đầu tư. Đối với mỗi dự án, điều quan trọng
không chỉ xác định chính xác lượng kinh phí cần thiết mà còn cần xác định nguồn
kinh phí của nó. Mỗi dự án có thể được đảm bảo bằng một, một số hoặc nhiều nguồn
kinh phí khác nhau. Cơ cấu nguồn kinh phí là một nhân tố phản ánh khả năng an
toàn của dự án.
Phương diện kinh phí của dự án cần được xem xét ở cả ba
giai đoạn. Giai đoạn đầu xác định số lượng và nguồn kinh phí cần thiết cho các
hoạt động của hai giai đoạn còn lại. Kinh phí cần thiết cho các hoạt động ở
giai đoạn một của dự án chiếm tỷ lệ thấp so với hai giai đoạn sau,
nhưng tính chất
hoạt động trong
giai đoạn này
có ý nghiã
quyết định, bởi vậy,
không cần quá hạn chế chi phí để ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động. Giai đoạn
thực hiện dự án là giai đoạn chủ yếu kinh phí được đưa vào để hoàn thành các hoạt
động thực hiện dự án. Cần đặc biệt quan tâm đến quản lý kinh phí trong giai đoạn
này. Giai đoan ba, kinh phí được biểu hiện dưới dạng chi phí khai thác dự án.
Chi phí khai có tỷ lệ nhiều ít khác nhau tuỳ thuộc vào từng ngành. Đối với các
dự án sản xuất kinh doanh, kinh phí cho giai đoạn này là vốn lưu động cần thiết.
µ Phương diện
hoàn thiện của dự án: Phương diện này của dự án đại diện cho những đầu ra
mong muốn (kết quả cần đạt được theo hướng mục tiêu). Một cách chung nhất, đó
là chất lượng hoạt động của dự án. Một cách cụ thể, đó có thể là lợi nhuận cao
trong các hoạt động kinh doanh. Độ hoàn thiện của dự án là kết quả tổng hợp của
cả ba giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và hoạt động. Bất cứ một hoạt động yếu kém
nào trong ba giai đoạn đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của dự án. Chất lượng
hoạt động trong giai đoạn một được thể hiện ở chất lượng tập hồ sơ về dự án. ở
giai đoạn hai là việc đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của dự án. Còn chất
lượng hoạt động trong giai đoạn ba là kết quả cuối cùng của dự án – mục tiêu dự
án.
µ Quan hệ giữa
ba phương diện chính của dự án:
Mối quan hệ giữa ba
phương diện chính của dự án là mối
quan hệ biện chứng có mâu thuẫn. Việc giải quyết mối quan hệ này luôn đặt ra
cho các nhà quản lý dự án. Thời điểm, thời gian, các nguồn lực là những điều kiện
quyết định mục tiêu của dự án. Ngược lại, những đầu ra định hướng cho việc lựa
chọn đầu vào. Một dự án với yêu cầu chất lượng, với những công việc phức tạp
không thể thực hiện bằng đội ngũ những người thiếu kỹ năng và không có trách
nhiệm.
1. Khái niệm:
Theo luật đầu tư thì dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và
dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời
gian xác định.
Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác
nhau:
- Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình
bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch
để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong
tương lai.
- Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý
sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội
trong một thời gian dài.
- Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện
kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh
tế - xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
- Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động
có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc
tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng
các nguồn lực xác định.
2. Yêu cầu của dự
án đầu tư: Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng
các yêu cầu cơ bản sau:
- Tính khoa học: Thể hiện người soạn thảo dự án đầu tư
phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ kỹ càng, tính toán thận trọng, chính xác
từng nội dung của dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ
kỹ thuật. Tính khoa học còn thể hiện trong quá trình soạn thảo dự án đầu tư cần
có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn
- Tính thực tiễn:
các nội dung của dự án đầu tư phải được nghiên cứu, xác định trên cơ sở xem
xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan
trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư.
- Tính pháp lý:
Dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc tức là phù hợp với chính sách và luật
pháp của Nhà nước. Muốn vậy phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà
nước, các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đầu tư.
- Tính đồng nhất:
Các dự án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về
hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư. Với các dự án đầu tư quốc
tế còn phải tuân thủ quy định chung mang tính quốc tế.
3. Phân loại dự án đầu tư
a. Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
* Đối với dự án đầu
tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tùy theo
tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân
theo 3 nhóm A, B và C. Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộc
ngành kinh tế nào?; Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thì
nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức
tạp hơn cả. Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt
nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có).
* Đối với các dự án
đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm A, B và loại được phân cấp
cho địa phương.
b. Phân theo trình tự lập và trình duyệt dự án: Theo trình
tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại:
Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước
này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.
Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi
là báo cáo nghiên cứu khả thi.
c. Theo nguồn vốn: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp
phát, tín dụng, các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước
ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI).
Quản trị dự án đầu tư bao gồm các hoạt động tổ chức, điều
hành, quản lý các quá trình:
-
Lập dự án
-
Thẩm định, xét duyệt dự
án
-
Thực hiện dự án
-
Sản xuất kinh doanh
theo dự án
-
Đánh giá kết quả, hiệu
quả thực tế của dự án qua từng thời kỳ và cả thời hạn đầu tư.
Kết thúc dự án, thanh lý, phân chia
tài sản.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét