Cho đến nay, ngành ngân
hàng nước ta đã trải qua 55 năm (6.5.1951-6.5.2006) xây dựng và phát triển, với
nhiều chặng đường gay go và phức tạp nhưng vẫn ổn định và phát triển tốt. Đặc
biệt là chặng đường từ năm 1986 cho đến nay, chặng đường đổi mới căn bản và
toàn diện của hệ thống ngân hàng VN. Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện theo
tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm1986), Chủ tịch HĐBT (nay
là Thủ tướng chính phủ) ký quyết định số 218/CT ngày 3.7.1987 cho làm thử việc
chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN (làm thử
đầu tiên tại TP.HCM từ tháng 7.1987, Hà Nội, Gia Lai...), sau đó tổng kết và
Chủ tịch HĐBT đã ban hành Nghị định 53/HĐBT ngày 26.3.1988 đổi mới mô hình tổ
chức bộ máy ngân hàng VN, với sự ra đời của hệ thống ngân hàng chuyên doanh.
Đến năm 1990, cơ chế đổi mới ngân hàng được hoàn thiện thông qua việc công bố
hai Pháp lệnh ngân hàng vào ngày 24.5.1990 (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước VN và
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức
chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống NHVN từ “một cấp” sang “hai cấp”. Theo đó,
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ, tín
dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, là ngân hàng duy nhất được phát hành,
là ngân hàng của các ngân hàng, là ngân hàng của Nhà nước…, còn hoạt động kinh
doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng do các tổ chức tín dụng thực hiện.
Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương
mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã
tín dụng, công ty tài chính. Tháng 12.1997 trước yêu cầu cao của thực tiễn hai
Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc hội nâng lên thành hai luật về ngân hàng (có
hiệu lực từ ngày 1.10.1998) và sau đó Luật NHNN và Luật các TCTD được sửa đổi
và bổ sung vào năm 2003, 2004.
Như vậy, hệ thống ngân
hàng thương mại VN đã chính thức đánh dấu sự ra đời và phát triển khoảng trên
15 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng đường trên, hệ thống NHTM VN đã không
ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi
nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh.
Mạng lưới ngân hàng
thương mại VN đến cuối năm 2005 đã có những buớc phát triển mạnh phủ khắp quận
huyện và hình thành cả trong các trường học. Hệ thống NHTM ở nước ta bao gồm: 5
NHTM nhà nước (Ngân hàng ngoại thương VN, Ngân hàng đầu tư và phát triển VN,
Ngân hàng công thương VN, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân
hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long), 36 NHTM cổ phần đô thị và nông
thôn, 29 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 04 ngân hàng liên doanh. Trong đó Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN có mạng lưới rộng nhất với hơn 100
chi nhánh cấp 1 và 2000 chi nhánh cấp 2-4 phủ khắp huyện và cả hệ thống ngân
hàng lưu động.
Vốn điều lệ của các NHTM
VN không ngừng gia tăng, NHTMNN sau nhiều lần bổ sung vốn đã nâng tổng vốn chủ
sở hữu của 05 NHTMNN lên trên 20.000 tỷ đồng tăng gấp 3 lần so với thời điểm
cuối năm 2000. Vốn điều lệ của NHTMCP được gia tăng đáng kể từ lợi nhuận giữ
lại, sáp nhập, các quỹ bổ sung vốn điều lệ, phát hành thêm cổ phiếu… từ đó giúp
tổng vốn điều lệ NHTMCP đến cuối năm 2005 tăng gấp 5 lần so với năm 2000, nhiều
NHTMCP có vốn điều lệ trên 500 tỷ đồng-1000 tỷ đồng.
Hệ thống NHTM VN đã có
những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong
nhiều năm qua. Với nhiều hình thức huy động vốn tương đối đa dạng, NHTM VN đã
huy động vốn hàng trăm tỷ đồng (năm 2005 tăng gấp 30 lần so với năm 1990-trên
600.000 tỷ đồng, tại TP.HCM các NHTM huy động đến cuối năm 2005 là 184.600 tỷ
đồng gấp 2,8 lần so với năm 2001) từ các nguồn vốn trong xã hội, tăng dư nợ cho
vay với mọi thành phần kinh tế (dư nợ năm 2005 tăng 40 lần so với năm 1990, tại
TP.HCM dư nợ cho vay cuối năm 2005 của các NHTM 170.200 tỷ đồng gấp 3 lần so
với năm 2001), tăng đầu tư vào những chương trình trọng điểm quốc gia, qua đó
góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng liên tục với
tốc độ cao (GDP tăng bình quân 7.5% trong 5 năm 2001-2005), góp phần tạo công
ăn việc làm cho xã hội (trong 5 năm 2001-2005 cả nước tạo việc làm cho 7,5
triệu lao động), góp phần xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ nghèo còn 7%) và làm
giàu hợp pháp. Nhiều dịch vụ tiện ích (chi lương, thu chi hộ, thanh toán chuyển
khoản, chuyển tiền tự động, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thẻ…) và nhiều
sản phẩm mới xuất hiện đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và sản xuất kinh
doanh của mọi thành phần kinh tế…
Hiệu quả kinh doanh của
các NHTM VN nhìn chung có những chuyển biến tích cực, lợi nhuận tăng trưởng khá
cao, có những NHTM tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE) đạt trên 20%,
riêng tại TP.HCM kết thúc năm 2005 các NHTM đã có những kết quả kinh doanh (thu
nhập-chi phí) tăng khá cao so với năm 2004 (NHTMNN tăng 73,9%, NHTMCP tăng
41,3%), dư nợ tồn đọng giảm dần.
Tuy nhiên, bên cạnh những
mặt tích cực hệ thống NHTM VN vẫn còn quá nhiều điểm yếu kém và tồn tại. Trong
bài phát biểu tại buổi lễ kỷ niệm 55 năm ngày thành lập ngành ngân hàng VN
(1951-2006) nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã phát biểu “Hệ thống chính sách,
pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới
triệt để, toàn diện ngành ngân hàng và hội nhập kinh tế quốc tế… sức cạnh tranh
và hiệu quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng VN còn yếu...”. Vì vậy, để NHTM
VN có thể đứng vững trong xu thế hội nhập, thực hiện các cam kết trong thỏa
thuận khung về dịch vụ trong khối ASEAN, các cam kết trong Hiệp định thương mại
song phương VN-Hoa Kỳ (BTA), và những nghĩa vụ khi VN gia nhập Tổ chức thương
mại thế giới WTO (có khả năng vào cuối năm 2006). Hoạt động tài chính - ngân
hàng là một trong những lĩnh vực được cam kết mở cửa mạnh mẽ nhất trong thời
gian tới. Vì vậy vào khoảng 2-3 năm sau khi VN gia nhập WTO các ngân hàng nước
ngoài sẽ có nhiều hoạt động phong phú đa dạng tại VN và đuợc đối xử ngang bằng
theo đúng nguyên tắc tối huệ quốc của WTO. Khi đó, NHTMNN và NHTMCP sẽ gặp phải
những đối thủ nặng ký (thương hiệu, vốn, công nghệ, nhân lực, kinh nghiệm, sản
phẩm…) ngay trên thị trường VN. Vậy ngay từ bây giờ (mặc dù đã hơi muộn) các
NHTM VN phải làm gì? Chính phủ cần có những chiến lược và giải pháp cụ thể nào?
Để có những ý kiến riêng của mình, chúng tôi đã thực hiện việc khảo sát ý kiến
khách quan của hơn 100 cán bộ công chức ngành tài chính ngân hàng theo mô hình
SWOT, chúng tôi đã ghi nhận được những đánh giá về điểm mạnh (Strengths) điểm
yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities), thách thức (Threats) của hệ thống
NHTM VN như sau:
ĐIỂM MẠNH (Strengths)
|
Nội dung
|
Tỷ lệ (%)
|
|
1 Có hệ thống mạng lưới
chi nhánh rộng khắp.
|
100
|
|
2 Am hiểu về thị trường
trong nước.
|
100
|
|
3 Đội ngũ khách hàng
của NHTM VN khá đông đảo.
|
100
|
|
4 Chiếm thị phần lớn về
hoạt động tín dụng, huy động vốn và dịch vụ.
|
100
|
|
5 Đội ngũ nhân viên tận
tụy, ham học hỏi và có khả năng tiếp cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiện
đại.
|
75
|
|
6 Có được sự quan tâm
và hỗ trợ đặc biệt từ phía NH Trung ương.
|
80
|
|
7 Môi trường pháp lý
thuận lợi.
|
60
|
|
8 Hầu hết đều đang thực
hiện hiện đại hóa ngân hàng.
|
60
|
ĐIỂM YẾU (Weaknesses)
|
Nội dung
|
Tỷ lệ (%)
|
|
1 Năng lực quản lý,
điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện đại, bộ máy quản lý
cồng kềnh, không hiệu quả.
|
90
|
|
2 Chính sách xây dựng
thương hiệu còn kém.
|
90
|
|
3 Chất lượng nguồn nhân
lực kém, chính sách tiền lương chưa thỏa đáng, dễ dẫn đến chảy máu chất
xám.
|
90
|
|
4 Các tỷ lệ về chi phí
nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các NHTM VN đều thua kém các ngân
hàng trong khu vực.
|
70
|
|
5 Sản phẩm dịch vụ chưa
đa dạng và chưa đáp ứng nhu cầu toàn diện của khách hàng.
|
80
|
|
6 Thiếu sự liên kết
giữa các NHTM với nhau.
|
50
|
|
7 Lĩnh vực kinh doanh
chủ yếu là tín dụng, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.
|
80
|
|
8 Hệ thống pháp luật
trong nước, thể chế thị trường chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất
quán.
|
80
|
|
9 Quy mô vốn hoạt động
còn nhỏ nên chưa thực hiện được mục tiêu kinh doanh một cách hoàn
chỉnh.
|
90
|
|
10 Việc thực hiện
chương trình hiện đại hóa của các NHTM VN chưa đồng đều nên sự phối kết hợp
trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ chưa thuận lợi, chưa tạo được
nhiều tiện ích cho khách hàng như kết nối sử dụng thẻ giữa các ngân
hàng.
|
80
|
CƠ HỘI (Opportunities) chuẩn bị gia nhập WTO, chính sách kinh tế mở, hội nhập kinh
tế
|
Nội dung
|
Tỷ lệ (%)
|
|
1 Có điều kiện tranh
thủ vốn, công nghệ và đào tạo đội ngũ cán bộ, phát huy lợi thế so sánh của
mình để theo kịp yêu cầu cạnh tranh quốc tế và mở rộng thị trường ra nước
ngoài. Từ đó, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
|
80
|
|
2 Hội nhập kinh tế quốc
tế tạo động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống ngân hàng VN,
nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, tăng cường khả
năng tổng hợp, hệ thống tư duy xây dựng các văn bản pháp luật trong hệ thống
ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện cam kết với hội nhập quốc
tế.
|
95
|
|
3 Hội nhập kinh tế quốc
tế giúp các NHTM VN học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng
của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng trong nước sẽ phải nâng cao trình
độ quản lý, cải thiện chất lượng dịch vụ để tăng cường độ tin cậy đối với
khách hàng.
|
90
|
|
4 Hội nhập quốc tế sẽ
tạo động lực thúc đẩy cải cách ngành ngân hàng VN, thị trường tài chính sẽ
phát triển nhanh hơn tạo điều kiện cho các ngân hàng phát triển các loại hình
dịch vụ mới…
|
100
|
|
5 Hội nhập quốc tế sẽ
tạo điều kiện cho các ngân hàng VN từng bước mở rộng hoạt động quốc tế, nâng
cao vị thế của các NHTM VN trong các giao dịch tài chính quốc tế.
|
60
|
|
6 Mở ra cơ hội trao
đổi, hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra
giải pháp tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và
vị thế của hệ thống NHTM VN trong các giao dịch quốc tế. Từ đó, có điều kiện
tiếp cận với các nhà đầu tư nước ngoài để hợp tác kinh doanh, tăng nguồn vốn
cũng như doanh thu hoạt động.
|
70
|
|
7 Chính hội nhập quốc
tế cho phép các ngân hàng nước ngoài tham gia tất cả các dịch vụ ngân hàng
tại VN buộc các NHTM VN phải chuyên môn hoá sâu hơn về nghiệp vụ ngân hàng,
quản trị ngân hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi
ro, cải thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, dịch
vụ ngân hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các ngân hàng nước
ngoài dự kiến sẽ áp dụng ở VN.
|
80
|
THÁCH THỨC (Threats)
|
Nội dung
|
Tỷ lệ (%)
|
|
1 Do khả năng cạnh
tranh thấp, việc mở cửa thị trường tài chính sẽ làm tăng số lượng các ngân
hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, trình độ quản lý làm cho áp
lực cạnh tranh tăng dần.
|
95
|
|
2 Áp lực cải tiến công
nghệ và kỹ thuật cho phù hợp để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước
ngoài.
|
80
|
|
3 Hệ thống pháp luật
trong nước, thể chế thị trường chưa đầy đủ, chưa đồng bộ và nhất quán, còn
nhiều bất cập so với yêu cầu hội nhập quốc tế về ngân hàng.
|
100
|
|
4 Khả năng sinh lời của
hầu hết các NHTM VN còn thấp hơn các ngân hàng trong khu vực, do đó hạn chế
khả năng thiết lập các quỹ dự phòng rủi ro và quỹ tăng vốn tự có.
|
65
|
|
5 Trong quá trình hội
nhập, hệ thống ngân hàng VN cũng chịu tác động mạnh của thị trường tài chính
thế giới, nhất là về tỷ giá, lãi suất, dự trữ ngoại tệ, trong khi phải thực
hiện đồng thời nhiều nghĩa vụ và cam kết quốc tế.
|
65
|
|
6 Các ngân hàng thương
mại VN đầu tư quá nhiều vào doanh nghiệp nhà nước, trong khi phần lớn các
doanh nghiệp này đều có thứ bậc xếp hạng tài chính thấp, và thuộc các ngành
có khả năng cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các
NHTM.
|
75
|
|
7 Hội nhập kinh tế,
quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng, trong
khi cơ chế quản lý và hệ thống thông tin giám sát ngân hàng còn rất sơ khai,
chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
|
85
|
|
8 Cấu trúc hệ thống
Ngân hàng tuy phát triển mạnh mẽ về chiều rộng (cả ở khu vực quản lý lẫn khu
vực kinh doanh) nhưng còn quá cồng kềnh, dàn trải, chưa dựa trên một mô hình
tổ chức khoa học làm cho hiệu quả và chất lượng hoạt động còn ở mức kém xa so
với khu vực.
|
80
|
|
9 Việc đào tạo và sử
dụng cán bộ, nhân viên còn bất cập so với nhu cầu của nghiệp vụ mới, đặc biệt
còn coi nhẹ hoạt động nghiên cứu chiến lược và khoa học ứng dụng làm cho
khoảng cách tụt hậu về công nghệ ngân hàng của VN còn khá xa so với khu vực.
Nền văn minh tiền tệ của nước ta do đó chưa thoát ra khỏi một nền kinh tế
tiền mặt.
|
85
|
|
10 Hội nhập kinh tế quốc
tế mở ra cơ hội tiếp cận và huy động nhiều nguồn vốn mới từ nước ngoài nhưng
đồng thời cũng mang đến một thách thức không nhỏ cho các NHTM VN là làm như
thế nào để huy động vốn hiệu quả. Vì khi đó, NHTM VN thua kém các Ngân hàng
nước ngoài về nhiều mặt như công nghệ lạc hậu, chất lượng dịch vụ chưa cao…
sẽ ngày càng khó thu hút khách hàng hơn trước.
|
95
|
|
11 Thách thức lớn nhất
của hội nhập không đến từ bên ngoài mà đến từ chính những nhân tố bên trong
của hệ thống ngân hàng VN. Vấn đề cần quan tâm hàng đầu là nguồn nhân lực và
các cơ chế khuyến khích làm việc tại ngân hàng hiện nay. Chảy máu chất xám là
vấn đề khó tránh khỏi khi mở cửa hội nhập. Các NHTM VN cần có các chính sách
tiền lương và chế độ đãi ngộ hợp lý để lôi kéo và giữ chân các nhân viên
giỏi.
|
100
|
Giải pháp
Để nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các NHTM VN, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp
sau:
° Đẩy nhanh quá trình cơ
cấu lại hệ thống NHTM VN, cải cách ngân hàng theo hướng nâng cao năng lực quản
trị điều hành, năng lực tài chính, mở rộng quy mô và năng lực cạnh tranh cho
NHTM VN. Hình thành các tập đoàn tài chính-ngân hàng đủ lớn, mạnh dạn sắp xếp
lại NHTMCP theo hướng thanh lý, giải thể những ngân hàng yếu kém, sáp nhập
những ngân hàng nhỏ không đủ vốn pháp định vào những ngân hàng lớn (vốn pháp
định NHTM đô thị cần điều chỉnh trên 200 tỷ đồng). Đẩy nhanh tiến trình cổ phần
hóa NHTMNN, như chúng ta đã cổ phần hóa các DNNN (REE, SACOM, VINAMILK…) và
hiện nay những doanh nghiệp CPH đang phát triển tốt), thực hiện thí điểm CPH
Ngân hàng ngoại thương, sau đó nhân rộng các ngân hàng khác. Trước khi CPH cần
lành mạnh hóa tình hình tài chính, giải quyết triệt để các khoản nợ xấu, nợ tồn
đọng, có thể sử dụng nguồn vốn NSNN cấp bù các khoản này, sau đó thu hồi từ việc
bán cổ phiếu của NHTMNN khi tiến hành CPH (giá cổ phiếu của ngân hàng hiện nay
cao gấp 5-10 lần so với mệnh giá).
° Thị trường chứng khoán
đang phát triển rất thuận lợi cho các NHTMCP phát hành thêm cổ phiếu mới để
tăng vốn tự có và năng cao năng lực tài chính của mình. Việc cho phép các nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các ngân hàng thương mại trong nước (tối đa
30%) cũng góp phần tăng nhanh vốn điều lệ của các NHTMCP VN. “Cái bánh ngon”
(lợi nhuận hoạt động ngân hàng) đã được chia cho nhiều người, trong đó có người
nước ngoài không có gì lo ngại, vấn đề là làm sao cho cái bánh đó ngon hơn,
chất lượng hơn và to hơn. Sau NHTMCP Sài Gòn Thương Tín cần tạo điều kiện cho
các NHTMCP khác niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán VN và tiến tới là
niêm yết trong khu vực ASEAN. Vốn điều lệ tăng sẽ góp phần hiện đại hóa công
nghệ, mở rộng mạng lưới, nâng cao năng lực tài chính... và thực hiện nhiều
chiến lược khác.
° Cần có một chiến lược
kinh doanh trung hạn và dài hạn, đặc biệt là chiến lược nhân sự. Gắn chiến lược
nhân sự với các trường đại học trọng điểm và hình thành các trung tâm đào tạo
tại các ngân hàng thương mại. Nhân viên ngân hàng là những người làm việc trên
lĩnh vực dịch vụ cao cấp nên phải đảm bảo tính chuyên nghiệp và lương cao. Vì
vậy, cần có cơ chế tiền lương phù hợp với trình độ và năng lực của cán bộ,
tránh chi trả lương theo cơ chế DNNN, hạn chế việc bình bầu thi đua khen
thưởng. Nếu tiếp tục như vậy sẽ mất hết cán bộ giỏi hoặc cán bộ dễ quan liêu,
tham nhũng, tiêu cực…
° Các ngân hàng thương
mại cần củng cố và hoàn thiện mạng lưới chi nhánh (thế mạnh của NHTM VN), đi
liền với chính sách chăm sóc khách hàng và tăng cường công tác tiếp thị. NTHM
VN, cần tiếp tục đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng: trong huy động
vốn, tín dụng sản xuất kinh doanh, tín dụng tiêu dùng, tài trợ xuất nhập khẩu,
dịch vụ thanh toán, thẻ, thu hộ chi hộ, giữ hộ, ủy thác, ngân hàng điện tử...
Cần chú ý phát triển các sản phẩm gắn với thị trường chứng khoán và hoạt động
bảo hiểm.
° Hiện đại hóa công nghệ
ngân hàng và phải xem đây là mục tiêu chiến lược để cạnh tranh với các ngân
hàng nước ngoài, nâng cao hiệu quả kinh doanh và thu hút khách hàng trong nước.
Đặc biệt là cơ chế thanh toán, phải nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và có tính
hệ thống, đồng bộ. Mạng lưới phủ khắp nơi, nhưng giữa các chi nhánh không liên
lạc với nhau được thì vô nghĩa. Đầu tư vào công nghệ hiện đại có thể làm tăng
chi phí ban đầu, nhưng sẽ giảm chi phí nghiệp vụ trong dài hạn, thu hút nhiều
khách hàng, quản trị được rủi ro do thông tin nhanh chóng, công tác điều hành
hiệu quả, đặc biệt là ngân hàng sẽ huy động nhiều tiền gởi thanh toán (lãi suất
thấp) do thanh toán dễ dàng, tiện lợi và mở rộng kênh phân phối.
° Tăng cường công tác
thanh tra giám sát nhằm đảm bảo tính an toàn cho cả hệ thống ngân hàng và tạo
niềm tin cho công chúng, nâng cao thương hiệu “hàng VN chất lượng cao và giá
dịch vụ phải chăng”, tăng cường công tác kiểm toán-kiểm soát nội bộ nhằm giám
sát và ngăn ngừa sai sót trong từng ngân hàng. Các quy định về thanh tra giám
sát cần nghiên cứu và ban hành phù hợp với chuẩn mực quốc tế và các quy định
trong Basel I
(1988) và Basel II (dự kiến áp dụng cuối năm 2006).
° Hoàn thiện hệ thống
pháp luật về lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng theo hướng hội nhập. Hai
luật ngân hàng cần khẩn trương hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi hai Luật ngân hàng
VN phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Trước mắt, NHNN
cần phối hợp với các Bộ có liên quan như: Bộ tư pháp, Bộ tài nguyên và môi
trường, Bộ tài Chính, Công an,…ban hành những Thông tư liên bộ có liên quan đến
vấn đề xử lý tài sản thế chấp, đặc biệt là các tài sản của DNNN để NHTM thu hồi
nợ nhanh chóng và góp phần lành mạnh hóa năng lực tài chính của các NHTM trước
thềm hội nhập, cũng như trước khi tiến hành cổ phần hóa NHTM NN.
Nếu các giải pháp
trên đây được thực hiện đồng bộ, chắc chắn sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh của các ngân hàng thương mại VN trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Tài liệu tham
khảo:
- Báo cáo tổng kết
của NHNN VN và NHNN chi nhánh TP.HCM 2000, 2001, 2003, 2004, 2005.
- Phát biểu của
nguyên Thủ tương Phan Văn Khải và Thống đốc Lê Đức Thúy tại buổi lễ kỷ niệm 55
ngày thành lập ngành ngân hàng VN.
- Tạp chí Ngân
hàng, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ tháng 1-5 năm
2006.
- Website Ngân hàng Nhà nước VN -
www.sbv.gov.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét